Tôn Giáo - La Bàn Thiêng Liêng Cho Con Người

Fri,12/05/2023
Lượt xem: 627

 

Lịch sử cho thấy tôn giáo có những chức năng rất phức tạp và đa dạng. Tôn giáo vừa là năng lực cho sự cấu kết cộng đoàn và vừa là nguyên nhân gây nên chia rẽ trong xã hội. Tôn giáo vừa thể hiện các xung lực vô thức vừa là sự chọn lựa có ý thức của con người. Tôn giáo vừa biểu tượng hóa cấu trúc của tư duy vừa tạo nên mạng lưới ý nghĩa cho thế giới. Tôn giáo vừa phản ảnh trải nghiệm thánh thiêng vừa lý giải cho sự tồn tại của sự dữ. Tôn giáo vừa cố bảo vệ chân lý của mình trước các thử thách khoa học vừa giải thích cho cứu cánh của vũ trụ tự nhiên. Có lẽ vì những năng lực đối nghịch nhau này mà tôn giáo có sức mạnh lôi cuốn con người suốt tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại. Như thế, tôn giáo là chiếc “la bàn thiêng liêng” giúp điều phối nhiều lĩnh vực quan trọng của cuộc sống như cấu trúc xã hội, nền tảng tâm linh, biểu tượng nhân học, cách lý giải những thử thách đến từ khoa học trong hành trình tìm hiểu ý nghĩa tối hậu của tồn tại.

Bài này sẽ sơ lược qua các nỗ lực định nghĩa tôn giáo và về tiến trình khoa tôn giáo học được tách biệt ra khỏi thần học. Kế tiếp, chúng ta sẽ dùng một số lý thuyết để phân tích cách tôn giáo điều phối các lĩnh vực xã hội và tâm linh của con người, cùng với cách con người biểu tượng hóa chính mình và trải nghiệm về sự thánh thiêng. Vì lý thuyết là công cụ cho nên chúng ta cần một thùng đầy đủ đồ nghề để dùng cho phù hợp với vấn đề cần phải giải quyết.

CÁC NỖ LỰC ĐỊNH NGHĨA TÔN GIÁO

Hầu hết các nỗ lực định nghĩa tôn giáo thì quá hẹp hoặc quá rộng. Trước thế kỷ XVI, định nghĩa tôn giáo như là “đức tin vào Thiên Chúa” thì quá hẹp bởi vì nó giả định quan điểm hữu độc thần và loại bỏ rất nhiều tôn giáo khác hay chiều kích khách quan của đời sống tôn giáo. Định nghĩa cho rằng tôn giáo là sự “lưu tâm tối hậu” (ultimate concern) ở thế kỷ XX thì “quá rộng” vì không giải thích được hành vi và ý định cụ thể của tín đồ hoặc ranh giới giữa bên trong và bên ngoài cộng đoản đức tin. Một cách định nghĩa hữu hiệu hơn cho rằng tôn giáo là một hệ thống truyền thông được thiết lập bởi đấng siêu việt liên quan đến lời mời gọi về một cách sống đặc thù nào đó. Lối định nghĩa này nhận diện rõ ràng hơn về ý định và niềm tin của cộng đoàn tôn giáo, nhưng không giới hạn tôn giáo vào một nền văn hóa nào cả.

Trong thực tế của cuộc sống, chúng ta trải nghiệm tôn giáo như một mạng lưới của những giá trị luân lý, với mục tiêu giúp con người được siêu thăng. Các thực hành tôn giáo như nghi thức, phụng tự, và quy luật cư xử tạo nên sự phân biệt giữa không gian thánh thiêng và cõi phàm tục. Tôn giáo còn tạo nên một cơ cấu giai cấp với hệ thống điều hành và thẩm quyền cho phù hợp cho mỗi cấp bậc. Linh đạo của tôn giáo trải dài từ đời sống chiêm niệm cho đến hoạt động từ thiện, hay từ ngôn ngữ tư tế đến phán đoán của ngôn sứ. Cuối cùng, tôn giáo là nơi lưu giữ phong phú nhất về dữ kiện của các truyền thống văn hóa như nghệ thuật, âm nhạc, triết học, sử học, nhân học và khoa học. Sự hiểu biết về tôn giáo giúp giải thích nhiều phạm vi của tư tưởng và hành vi con người. Khó mà giải thích được mối thù và chiến tranh liên lỉ giữa Arập và Israel suốt hơn nữa thế kỷ qua nếu không hiểu gì về Do Thái giáo hoặc Hồi giáo. Không thể nghiên cứu sự phát triển của âm nhạc, nghệ thuật ảnh tượng và kiến trúc mà không nắm bắt được lịch sử của linh đạo Kitô giáo.

Trước khi phân tích sâu hơn về tôn giáo, chúng ta hãy sơ lược qua các quan điểm thông thường. Khởi đầu, quan điểm “thần sử” (euhemerism), lấy tên từ triết gia Hy-lạp Euhemerus (300BC), cho rằng mọi tôn giáo bắt đầu bằng những chuyện kể về những nhân vật siêu phàm nào đó trong lịch sử. Sau khi các vị đó qua đời, các trình thuật này được thổi phồng và trở thành các huyền thoại, như đã thấy trong trường hợp Môsê, Đức Giêsu, Đức Phật hay Mohammed. Quan điểm này không giải thích được tại sao tôn giáo vẫn tiếp tục và phát triển như thế nào. Hơn nữa, khó mà kiểm chứng lịch sử tính chân thực của thần sử. Một hạt bụi trong giọt nước mưa không thể giải thích nguồn gốc của giọt nước mưa đó.

Một quan điểm khác cho rằng tôn giáo là một loại khoa học ấu trĩ. Quan điểm này giả định cách hiểu các tài liệu tôn giáo theo nghĩa từ nguyên, và đánh giá tri thức “sơ khai” hay “tiền logic” của người cổ đại về vũ trụ như là sự sai lầm so với tri thức khoa học ngày nay. Tuy nhiên, nhận định về con người cổ đại hoàn toàn khác và kém logic hơn con người ngày nay lầm lẫn giữa chú giải khoa học và chú giải lịch sử. Đây là hai lối tiếp cận của cùng một bản văn nhưng đến từ hai mô hình tri thức khác nhau. Nỗ lực tạo mây thì hoàn toàn khác với cầu nguyện cho mưa xuống, cho dù cả hai hành vi muốn đạt đến cùng một mục tiêu.

Cách nhìn thứ ba là xem tôn giáo như là ảo tưởng tâm lý hay sự tha hóa của xã hội. Quan điểm tâm lý cho rằng qua tôn giáo và giấc mơ, con người có thể thực thi những gì mà họ không thể làm trong thế giới. Tôn giáo cho phép con người thể hiện các xung lực của mình cách an toàn cho xã hội. Quan điểm này giải thích tính phổ quát của cảm xúc tôn giáo, vì chúng ta chưa hiểu biết hoàn toàn về hoạt động của vô thức cho nên khó mà kiểm chứng được tính khoa học của quan điểm này. Mặt khác, tôn giáo cũng thường bị cho là một ảo tưởng tiêu cực, cản trở sự tiến bộ của xã hội, và là công cụ để biện minh cho cơ chế thống trị và bóc lột giới lao động. Marx xem tôn giáo như là “liều thuốc phiện ru ngủ của quần chúng,” một bộ phận trong guồng máy ý thức hệ của giai cấp trưởng giả, tồn tại trên nền tảng không phải là nó. Một khi giai cấp trưởng giả bị phá đổ thì tôn giáo sẽ tự hủy diệt. Tuy nhiên, quan điểm này không giải thích được sự tồn tại kiên trì của tôn giáo sau sự sụp đổ của chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa cộng sản.

Vì tôn giáo rất đa dạng và phức tạp, cho nên thay vì tìm một học thuyết để giải thích tôn giáo chúng ta nên mô tả chúng. Nhưng nếu mô tả từ một “yếu tính” của tôn giáo, thì yếu tính đó được trích xuất từ tôn giáo cụ thể nào và có cơ may loại trừ các tôn giáo khác. Nếu mô tả theo giá trị thực tế trong xã hội thì rất dễ lầm lẫn tôn giáo với nhiều nhóm từ thiện có cùng chức năng. Wittgenstein đề nghị xem tôn giáo như một “gia đình”, và mô tả những “nét chung” trong cách dùng ngôn ngữ và biểu tượng, cùng với những niềm tin và thực hành chồng chéo lên nhau trong gia đình này. Phương pháp này không giả định yếu tính siêu nghiệm nào cả, mà chỉ nhận diện những dấu vết hoặc đường nét mà hầu hết các tôn giáo đều chia sẻ. Kết quả có bốn nét chung về tôn giáo là: (1) Nhìn thế giới qua một nhãn quan hay một niềm tin nhất định nảo đó. (2) Nhãn quan này tạo nên ranh giới phân biệt bên trong và bên ngoài tôn giáo. (3) Bao gồm một thực tại hay Đấng Siêu Việt tồn tại bên trên thế giới con người. (4) Niềm hy vọng về sự sống đời sau, và một cuộc “phán xét” qua đó con người sẽ bị đánh giá để xứng đáng được hưởng phần thưởng vĩnh hằng.

KIM TỰ THÁP: LA BÀN THIÊNG LIÊNG CHO CON NGƯỜI

Nhà nghiên cứu tôn giáo nổi danh Mircea Eliade dùng hình ảnh chiếc “la bàn thiêng liêng” để mô tả chức năng của tôn giáo giúp con người định hướng cuộc sống của mình trong vũ trụ. Vũ trụ được sắp xếp theo một trật tự song đôi: “thần thánh/thiên đàng/cõi sống” và “con người/trái đất/cõi chết”. Mô hình này được phản ảnh qua nhiều cấu trúc tôn giáo (kim tự tháp) và huyền thoại về nguồn gốc của vũ trụ (sách Sáng Thế hoặc Kinh Vệ Đà). Tôn giáo nào cũng có một vũ trụ luận (cosmology), giúp con người định vi tư thế của mình trong tương quan với thế giới. Từ “cosmology” do từ “cosmos” (thế giới) và “logos” (sự thông tri, diễn ngôn) kết lại. Trong khi vũ trụ luận khoa học (thuyết cơ lượng tử của Einstein) mở rộng nhãn quan của con người về giới hạn của vũ trụ vật chất, thì vũ trụ luận tôn giáo giải quyết các vấn nạn trong cuộc sống (sự dữ) để con người khỏi rơi vào sự hỗn loạn tâm lý hay thiêng liêng. Vũ trụ luận tôn giáo dựa trên niềm tin bất biến và vĩnh cửu, còn vũ trụ luận khoa học dựa trên sự tiến bộ của phát minh khoa học.

Vũ trụ luận tôn giáo trả lời cho những loại câu hỏi: Vũ trụ từ đâu mà ra? Đâu là số phận hay vận mệnh của vũ trụ? Ý nghĩa của cuộc sống là gì? Sách Sáng Thế cho rằng: “Từ thủa ban đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng trời và đất.” Tin Mừng Gioan giải thích “Từ thủa ban đầu đã có Ngôi Lời”. Điểm đặc biệt của vũ trụ luận cho dù ý vị của nó là thể lý, nhưng ý nghĩa của nó là phi-vật chất, tức là một la bàn thiêng liêng vốn điều phối và định hướng con người trong thế giới vật chất. Những vật thể tiêu biểu cho vũ trụ luận tôn giáo đầu tiên xuất hiện khoảng giữa 3500 BC đến AD 500 tại vùng Cận Đông qua hình thức Kim tự tháp Ai Cập và những thần thoại (myths) về trật tự của thế giới. Kim tự tháp được dựng nên để gây ấn tượng thiêng liêng và cung cấp sự định hướng tâm linh cho dân tộc Ai cập cổ đại. Truyện thần thoại Ai cập nói lên mối tương quan loại suy giữa thiên nhiên và cuộc sống con người. Mọi sự vận hành theo chu kỳ: cuộc sống con người khi tỏ khi khuất, mặt trời mọc lên và lặn xuống, dòng sông Niles khi cạn khi đầy, nhưng tất cả không biến mất hoàn toàn. Sự chính xác trong kích thước hình học và chiều hướng phù hợp với trục trái đất và các vì sao cho thấy Kim tự tháp là mô hình của vũ trụ, chỉ ra phương hướng và các cấp độ tồn tại (địa ngục/trái đất/thiên đàng). Là diễn ngôn về vũ trụ luận, Kim tự tháp nói lên logic đối lập của “sự sống/cái chết”, hay “thần thánh/con người”, tức là sự truân chuyên trong cuộc sống trần ai mà mọi con người phải vượt qua.

Trong khi vũ trụ luận Ai cập dùng phạm trù không gian, thì vũ trụ luận Hindu xoay quanh sự kéo dài của thời gian. Vũ trụ luận của Hindu mô tả một vũ trụ đã tồn tại qua quãng thời gian rất dài hầu như vô tận, hơn cả 13 tỷ năm của thuyết Big Bang. Thay vì theo chu kỳ “chết/tái sinh” của Ai cập, thì Hindu cho rằng hạnh phúc vĩnh cửu của con người là đạt đến Nirvana, tức là thoát ra khỏi bánh xe luân hồi của vô số chu kỳ sống, chết và đầu thai. Như thế, tôn giáo mà cho rằng thế giới đã xuất hiện quá lâu thì ơn cứu rỗi là thoát khỏi thế giới đó. Tôn giáo cho rằng đời người là quá ngắn ngủi thì hạnh phúc là được sống đời đời trong cõi vĩnh hằng. Đây là một hình thức của logic đối nghịch của vũ trụ luận tôn giáo.

Cuối cùng, trong sách Sáng Thế hàm chứa vũ trụ luận của Do Thái giáo với sự nhấn mạnh vào sự tốt lành của tạo vật do Thiên Chúa đã tạo nên. Con người khởi đầu từ nguồn gốc thiện hảo nhưng đã trở nên sa ngã và mang đau khổ vào cuộc sống thế nhân. Sự dữ xuất hiện như sự suy đồi của sự thiện nền tảng mà Thiên Chúa đã đặt để trong loài thụ tạo có lý trí. Vũ trụ luận Do Thái giáo cũng dùng mô hình đối nghịch giữa “thần thánh/thiên đàng/sự sống” với “con người/trái đất/sự chết”. Mọi nỗ lực tự con người muốn vượt qua ranh giới này đều thất bại (Tháp Babel). Chỉ qua cách tuân giữ lời giao ước và Thập Điều thì con người mới kết nối được với nền tảng thánh thiêng của mình. Trong tương quan với Thiên Chúa, sự thánh thiện ở mức độ cá nhân thì không quan trọng cho bằng sự gắn bó cộng đồng.

TÔN GIÁO BIỂU TƯỢNG HÓA CON NGƯỜI VÀ TRẢI NGHIỆM THÁNH THIÊNG

Tôn giáo không chỉ là tập hợp những biểu tượng hay cổ vật, nhưng còn là hành vi tham dự vào hoạt động xã hội qua đó tỏ lộ cấu trúc của tư tưởng và tạo nên một mạng lưới văn hóa. Lối phân biệt giữa “ngôn từ” (ký hiệu) và “diễn ngôn” (hành vi ngôn ngữ) của Ferdinand de Saussure (1857-1913) giúp chúng ta nhận ra bề dày của biểu tượng tôn giáo. Những “âm-hình” hay ký hiệu không thể tự nó tạo ra sự khác biệt trong thế giới, nhưng con người dùng chúng để tạo nên những “khái niệm” để nói lên sự khác biệt đã có sẵn trong thế giới. Khi hiểu hành vi hay biểu tượng tôn giáo như là “diễn ngôn” thì ta có thể nhận ra ngôn ngữ tỏ lộ cấu trúc của tư tưởng và cũng tạo nên mạng lưới biểu tượng của văn hóa.

Trước tiên, Claude Lévi-Strauss (1908-2009) nhắm vào cấu trúc của tư tưởng đứng sau các diễn ngôn tôn giáo. Lévi-Strauss kết nối tri thức luận của Kant và ký hiệu học của Saussure, để kết luận rằng phải có những cơ cấu trong tâm trí vốn điều phối cách con người dùng biểu tượng trong tôn giáo. Các cơ cấu này có thể được nhận diện qua việc so sánh những cách mà các bộ lạc bố trí biểu tượng của họ. Các cơ cấu tư tưởng được tái diễn qua nhiều hình thức với mục đích bảo đảm chân lý tôn giáo sẽ không trở nên mơ hồ và tối nghĩa qua thời gian. Cho dù, hành vi tôn giáo mang tính ngẫu hứng, nhưng luôn có một vô thức tập thể hay nguyên mẫu trong cách con người tạo nên sản phẩm tôn giáo.  Mặt khác, Clifford Geertz (1926-2006) dùng phương pháp “phân tích dày” (thick description) để tách ra các ý nghĩa đan quyện với nhau trong mạng lưới các biểu tượng văn hóa.  Geertz chú tâm vào cách mà hệ thống biểu tượng thôi thúc con người tiếp tục tâm thức và đảm nhận những hoạt động cố định trong thế giới. Lối tiếp cận thực dụng này cho thấy tôn giáo như một hệ thống tác động lên sự thiết lập tâm thức và động lực mạnh mẽ và lâu bền nơi con người. Tôn giáo dàn dựng và mặc lên những trật tự xã hội một hào quang văn hóa hiện thực. Chỉ tôn giáo mới có thể lý giải những sự hỗn loạn bất thường và phục hồi sự tự tin để con người có thể tiếp tục thăng tiến cuộc sống của mình trong thế giới.

Cuối cùng, tôn giáo còn tỏ lộ sự đáp trả của con người khi trải nghiệm về sự thánh thiêng. Kant cho rằng khác với cái đẹp, và cái cao cả là trải nghiệm về sự siêu thăng được cảm nhận từ những thực thể mang sự tồn tại dày đặc hơn những thực thể khác, như khái niệm “Thượng Đế”. Trải nghiệm thánh thiêng là một sự gợi cảm (ahndung), một cái gì đó có thật từ thế giới bên ngoài, được cho qua trực giác (intuition). Rudolf Otto (1869-1937) phân tích trải nghiệm về “Sự Thiêng Liêng” và chỉ ra rằng gặp gỡ sự thiêng liêng (numinous) sẽ gợi lên cảm xúc nhiệm mầu, khủng khiếp, và lôi cuốn, tức là những trải nghiệm cực kỳ khác lạ, làm cho con người trở nên bất lực và kinh ngạc như được truyền tải năng lực, cùng với sự lôi cuốn và thôi thúc muốn biết thêm nữa. Qua trải nghiệm về sự thiêng liêng, con người nhận ra tính “thụ tạo” hay thân phận bất tất triệt để của mình.

Mircea Eliade (1907-1986) đi xa hơn khi khẳng định tôn giáo là hiện tượng “sự thánh thiêng” (the sacred) đang xâm nhập vào thế giới con người. Sự xâm nhập này để lại ảnh hưởng trên xã hội và văn hóa như được thấy từ cấu trúc phố xá, đỉnh mái đền thờ cho đến các hình mẫu tâm linh cơ bản trong các truyện cổ tích. Từ cái nhìn của tín đồ, không gian như được phân chia ra thành cõi phàm (không gian sinh hoạt hằng ngày) và cõi thiêng là nơi sự thánh thiêng tỏ hiện. Không gian thánh thiêng là điểm tụ, hay trục thế giới (axis mundi), giúp con người định hướng sự tồn tại của mình trong thế giới. Truyện thần thoại kể lại những gì xảy ra và nghi thức tái diễn các hoạt động của thần thánh, và qua đó, con người hiểu được ý nghĩa tối hậu của cuộc sống thường ngày. Một ngôi thánh đường, đền thờ, hay điểm hành hương là không gian thánh thiêng. Trong lúc Giêrusalem, Rôma hay Mecca là “đất thánh”. Bên ngoài không gian thánh thiêng là sự hỗn tạp và hoang dại, ngoài phạm vi của trật tự đã được thánh hóa; nhưng đó cũng là nơi con người được tái tạo, biến đổi, thử thách hay tiêu diệt. Các ngôn sứ, Đức Giêsu hay Phaolô vào sa mạc để bị thứ thách trước khi bắt đầu sứ vụ của mình. Trải nghiệm thánh thiêng chuyển hướng ngôn ngữ tôn giáo về “Nguồn” của sự thánh thiêng.

Năm 1870, Max Muller chính thức khởi xướng “Khoa học về tôn giáo” và các học giả tân thời tiếp tục khai triển viễn tượng này qua các nhãn quan xã hội học, tâm lý học, nhân học và hiện tượng học mà không hề phải nại đến các yếu tố siêu nhiên nào cả. Các học thuyết này đã để lại một gia sản phong phú cho khoa tôn giáo học. Clifford Geertz kêu gọi chúng ta hãy chú giải thay vì giải thích tôn giáo, nếu chúng ta muốn thông diễn chân lý mà tác giả truyền đạt. Nhân học biểu tượng xem tôn giáo là hệ thống các ký hiệu mà con người tạo nên và truyền thông ý nghĩa, do đó, tôn giáo học cần phục hồi mạng lưới ý nghĩa thay vì giải thích chúng. Tuy nhiên, người chú giải cũng cần có khoảng cách tri thức để nhận ra các ý thức hệ đang tiềm tàng trong nguồn liệu hay tiến trình thông diễn. Chủ thuyết Maxít có thể vạch trần những bất công trong tôn giáo, hay phân tâm học của Freud có thể giúp ta nhận thức vai trò lành mạnh hơn của tôn giáo.

Đóng góp quan trọng của hiện tượng luận trong thế kỷ XX là sự nhận diện trải nghiệm thánh thiêng vốn làm cho con người trở nên khắc khoải muốn tìm cách đáp trả. Loài dã thú có thể nhận ra các dấu hiệu thay đổi trong thiên nhiên trước khi chúng xảy ra, nhưng chỉ con người mới có khả năng lắng nghe và đáp trả lời mời gọi của Đấng Thánh Thiêng. Tôn giáo là “công cụ” giúp con người phát hiện sự xâm nhập thánh thiêng và cũng là “nơi” Đấng Thánh Thiêng tỏ hiện. Khi con người đón nhận trải nghiệm thánh thiêng như là một “món quà” vô điều kiện, từ đó con người hiểu được mạc khải và sàng lọc lịch sử để tìm kiếm ý nghĩa của mầu nhiệm “nhập thể”. Con người phóng chiếu mình qua biểu tượng tôn giáo và khởi đầu cuộc hành trình tìm hiểu cách cư ngụ trong “Nước Chúa” và nói về Thiên Chúa (theo-logos).

Giuse Nguyễn Đoàn Tân, OFM

Tài liệu tham khảo

Joseph Tân Nguyễn, ofm. Tôn Giáo: La bàn Thiêng Liêng Cho Con Người. NXB Đồng Nai, 2023.

Nguồn tin:
Tags :