Bàn Về Sự Hiện Hữu Của Thiên Chúa Qua Những Lập Luận Luân Lý

Tue,04/02/2020
Lượt xem: 74

Có nhiều cách thức khác nhau để các triết gia bàn về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Một trong những cách thức đó được dựa trên các lập luận luân lý. Vậy, những lập luận luân lý nói như thế nào về sự hiện hữu của Thiên Chúa? Liệu các lập luận đó có khả dĩ thỏa đáng hay không?

T thi c đại, các triết gia Hy Lp đã đề cp đến các thn. Tri qua thi trung c, các triết gia tôn giáo tiếp tc làm ni bt và đào sâu hơn đề tài s hin hu ca Thiên Chúa. Đến thi hin đại, nhng tư tưởng vô thn xut hin, nhiu triết gia phn bác s hin hu ca Thiên Chúa. Liu Thiên Chúa có hin hu? Đây là mt câu hi được nhiu triết gia và nhiu người quan tâm vì s đa dng ca các tôn giáo và tín ngưỡng. Để tìm hiu vn nn s hin hu ca Thiên Chúa, trước hết người viết th tìm hiu khái nim v Thiên Chúa theo Dothái-Kitô Giáo, sau đó, da vào lun chng luân lý để tìm hiu s hin hu ca Thiên Chúa y, và cui cùng, đưa ra mt vài kết lun mang tính cá nhân v s hin hu ca Thiên Chúa.

Theo đức tin Dothái-Kitô Giáo, Thiên Chúa là Đấng To Hóa vô hn, t hu, toàn năng, có ngôi v, yêu thương, tt lành, và thánh thin.[1] Ngài là Đấng luôn quan phòng, yêu thương, chăm sóc mi loài th to. Để đáp li tình yêu y, Thiên Chúa mi gi mi tín hu yêu mến Ngài vi trn c con người và mi gi tt c mi người sng yêu thương nhau (Mt 22, 38-40). Liu Thiên Chúa như thế hin hu?

Để chng minh Thiên Chúa ca Dothái-Kitô Giáo hin hu, nhiu triết gia đã da vào lun chng luân lý. Có l, triết gia đầu tiên đã s dng lun chng này là Thánh Toma Aquinô con đường th bn trong Ngũ Đạo khi ngài phân hng các phm cht theo cp độ cao thp – điu thin, điu tht, điu cao thượng… S hơn kém này được gán cho các s vt tùy theo cách tiếp cn ca chúng vi hu th tuyt đỉnh. Hu th tuyt đỉnh này tt yếu phi hin hu và phi có s chân tht nht, thin ho ht và cao thượng nht (vì “mt vt không th cho cái nó không có”). Hơn na, hu th tuyt đỉnh này là nguyên nhân ca s hin hu, s thin ho và mi s hoàn b ca tt c các hu th vì “điu gì là tuyt đỉnh trong mt ging loi thì cũng là nguyên nhân ca mi vt thuc ging loi y”; hu th đó là Thiên Chúa.[2]

Nhng lun chng luân lý tht quan trng và đáng được quan tâm. Chúng đáng được quan tâm bi vì tính hu lý và lành mnh ca chúng yêu cu tp trung vào vic thc hành nhng vn đề triết hc quan trng liên quan đến siêu đạo đức (metaethics); đồng thi, chúng quan trng bi vì s xác đáng trong nhng lun lý h giáo khá ph biến trong nim tin tôn giáo[3]. Lun chng luân lý được trình bày theo hai hình thc chính.

Hình thc th nht

Lun chng này được rút ra mt cách logic t nhng quy lut luân lý mang tính khách quan để đi ti mt Đấng Lp Lut, hoc t tính khách quan ca nhng giá tr luân lý, đạo đức nói chung để đi ti mt Nn Tng Các Giá Tr siêu vit.[4] Nói cách khác, lun lý này có th được trình bày theo mt tam đon lun:

1.     Có nhng s tht (facts) luân lý khách quan.

2.     Thiên Chúa cung cp li gii thích tt nht cho s tn ti ca nhng s tht luân lý khách quan.

3.     Do đó, Thiên Chúa hiện hữu.[5]

Luận chứng này được Hồng y Newman bảo vệ và lấy ví dụ cụ thể. Bất cứ khi nào chúng ta phạm lỗi nghịch với lương tâm, hoặc không làm điều tốt, chúng ta sẽ cảm thấy mình bị trách cứ, thấy xấu hổ, lo lắng… Nếu như nguyên nhân của những cảm tính này không thuộc về thế giới hữu hình, thì Đối Tượng mà cảm thức của một người có lương tâm đó huớng đến phải là Đấng Siêu Nhiên và Thần Linh.[6]

Thực tế, hai tiền đề (1 và 2) đã bị những người phi bác sự hiện hữu của Thiên Chúa phản đối. Làm thế nào có thể khẳng định những sự thật luân lý là khách quan mà không phải là chủ quan? Có nhất thiết phải nại đến Thiên Chúa để giải thích cho tiền đề thứ hai? Để chống lại sự phản đối ấy, các triết gia không những phải bảo vệ sự thật luân lý là khách quan và sự thật luân lý ấy chỉ được giải thích tốt nhất bởi Thiên Chúa, mà còn phải chỉ ra những giới hạn trong cách đặt vấn đề của đối thủ. Thật khó nếu không nói là không thể hoàn thành nhiệm vụ kép này. Như thế, hình thức lập luận luân lý thứ nhất này chưa vững.

Hình thức thứ hai

Hình thức thứ hai không hẳn là một luận chứng theo nghĩa đen. Luận chứng này nói rằng hễ ai nghiêm túc tôn trọng các giá trị đạo đức, coi những giá trị đó có tính cách bó buộc, thì phải ngầm tin rằng có một cội nguồn và nền tảng cho những giá trị này, mà các tôn giáo gọi đó là Thiên Chúa.[7] Immanuel Kant đã bảo vệ hình thức này khi ông cho rằng tất cả mọi hành động, kể cả những hành động luân lý, tất yếu phải nhắm đến những mục đích nào đó; mục đích mà những hành động luân lý tốt thường nhắm đến là sự thiện tối cao (the highest good), sự thiện này bao gồm một thế giới mà con người vừa tốt lành vừa hạnh phúc, và những nhân đức luân lý là điều kiện để đạt được hạnh phúc. Sự thiện tối cao là định đề cho sự hiện hữu của Thiên Chúa đối với những ai sống đời đạo đức.[8] Luận điểm tương tự cũng được truyền thống của Dothái-Kitô giáo áp dụng. Bất kỳ ai coi những đòi buộc đạo đức là có thẩm quyền trên những tư lợi cá nhân và việc sống tốt đòi buộc đạo đức ấy, thì họ đang sống thực tại đạo đức tối hậu – bước đầu để đi tới niềm tin vào Thiên Chúa.

 Khi suy gẫm những lập luận của hình thứ thứ hai này và suy gẫm lập luận của Kant, mỗi người có thể đặt vấn đề: phải chăng hành động luân lý sẽ thúc đẩy con người tìm kiếm sự thiện tối cao, hoặc tìm kiếm Thiên Chúa? Liệu có thực sự cần thiết để mỗi người phải đạt cho được sự thiện tối cao ấy? Trong đời sống, sự thiện tối cao thường rất khó để đạt được, bởi những nỗ lực nơi ý chí thật khó thắng vượt những yếu đuối nơi nhân cách. Thánh Phaolô đã từng nói: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19). Như vậy, dựa vào các giá trị luân lý và đạo đức, ta chưa thể kết luận rằng chúng nhất định phải quy chiếu về và quy chiếu một cách chính xác về một Đấng Tạo Hóa vô hạn như trong Kinh Thánh.

Nhận xét, đánh giá và kết luận cá nhân

Hai hình thức lập luận dựa trên luân lý chưa khẳng định chắc chắn Thiên Chúa hiện hữu theo nghĩa đen. Tuy nhiên, những luận chứng luân lý, một cách nào đó, đã đặt nền tảng quan trọng để suy tư về đạo đức. Một khi đã có nền tảng, mỗi người sẽ suy xét những gì là hữu thể chân thực nhất, tốt nhất và tối thượng nhất. Dựa vào những hữu thể như vậy, mỗi người có thể tìm hiểu nguyên nhân hay nguồn gốc tận cùng của những phẩm chất tốt lành này.

Là những người có trí khôn, có lẽ ai cũng có khả năng nhận thức được những hành động nào là đúng, là sai, là bắt buộc, là bị cấm. Lương tâm của họ sẽ “nói” cho họ biết đâu là những điều lành cần làm và đâu là những điều dữ phải tránh. Những “tiếng nói” của lương tâm như thế, và tính phổ quát luân lý mà mọi người đều chân nhận tiếp tục là những sự gợi mở cho những ai muốn tìm kiếm nguồn gốc tối hậu của chúng.

Trong lịch sử Triết học, nhiều triết gia đã nỗ lực chứng minh Thiên Chúa có hiện hữu hay không. Dường như, người ta không thể chắc chắn chứng minh sự hiện diện của Thiên Chúa hoặc phi bác sự hiện hữu của Đấng ấy. Phải chăng, việc Thiên Chúa tồn tại hay không vượt xa khả năng lý trí của con người? Có chăng việc Thiên Chúa tồn tại hay không phụ thuộc vào sự chứng nghiệm nơi mỗi cá nhân mà thôi.

Cuối cùng, dù những lập luận luân lý chưa thực sự chứng minh chính xác sự hiện hữu của Thiên Chúa, nhưng nhiều người sẵn sàng sống tốt những giá trị luân lý, dù họ phải “trả giá”. Khi “trả giá” như thế họ đã làm cho tình người với người được xích lại gần nhau hơn.

[1] John H. Hick, Philosophy of Religion, Prentice Hall, p.5-13.

[2] Thánh Thomas, Tổng Luận Thần Học – I, vđ 1-26, phiên dịch và dẫn nhập: Nguyễn Văn Liêm, O.P., Nxb tp Hồ Chí Minh, 2002, Tr. 141-143.

[3] C. Stephen Evans, “Moral Arguments for the Existence of God”, đăng ngày thứ Năm, 12/06/2014, URL = https://plato.stanford.edu/entries/moral-arguments-god/.

[4] John H.Hick, p.28.

[5] C. Stephen Evans.

[6] John H.Hick, P.28.

[7] John H.Hick, P.29.

[8] C. Stephen Evans.

 

Nguyn Văn Đương, S.J

Nguồn tin: sjjs.edu.vn