Vấn Đề Sự Chết: Cách Nhìn Và Quan Niệm

Mon,14/01/2019
Lượt xem: 1567

Dẫn nhập

“Ngay khi còn sống, con người đã mang trong mình sự chết.” Tôi đang sống nghĩa là tôi đang tiến dần về với sự chết. Đó là điều chắc chắn mà ai cũng có thể biết trước, nhưng biết về cái chết thì không ai quả quyết được là mình sẽ phải chết cách nào? Chết nơi nào và chết vào giờ nào?. Có người chết vì bệnh tật; có người chết vì tai nạn giao thông; có người chết vì chiến tranh; kẻ khác chết tuổi già; có kẻ chết yểu, chết non; có người vì động đất, sóng thần, thiên tai; lại có kẻ chết vì bị ám sát do thù hằn, do chính trị hay chết vì kẻ trộm chém giết để chiếm đoạt tài sản; có kẻ chết oan, vì người thân giết; Có những kẻ chết vì liều mình quên sinh; nhiều kẻ chết vì thuốc lá, rượu chè, ma túy… Người chết trong tư thế ngồi, nằm hay đứng; kẻ chết trôi, người chết vì điện giật; thậm chí có vô số sinh linh chưa được cất tiếng khóc chào đời thì đã bị thủ tiêu ngay trong bụng mẫu thân.v.v..

Thánh Vịnh đã không ngớt vang lên:

“Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết,
Kẻ ngu đần dại dột cũng tiêu vong” (Tv 49, 11).

Sách Giảng Viên cũng nói về số phận phải chết của con người rằng: “Quả thế, con người và thú vật đều cùng chung một số phận: bên này chết, bên kia chết; đôi bên cùng có sinh khí như nhau” (Gv 3,19).

Sách Khôn ngoan viết:

“Một người cha phiền muộn khóc thương con chết yểu,
Đã làm nên hình tượng đứa trẻ sớm mất đi;
Và con người hôm qua chỉ là một người chết,
Hôm nay ông tôn kính như một vị thần.
Ông còn truyền lại cho những kẻ thuộc quyền ông,
Bao điều huyền nhiệm cùng lễ bái” (Kn 14,15);
 
 Và đây, sách Huấn ca cũng cho ta hay: 
 
“Hãy khóc thương kẻ ly trần, vì nó đã mất ánh sáng;
Hãy khóc thương đứa ngu đần, vì nó đã mất trí khôn.
Khóc người chết thì khóc ít thôi, vì nó đã được yên nghỉ;
Còn đứa ngu đần tuy sống mà tệ hơn là chết” (Hc 22,11)

Một vài thống kê về cái chết

Theo PNO – Ngày 12/9, Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) công bố một báo cáo cho biết trong năm 2011, con số tử vong hàng năm của trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm xuống dưới 7 triệu em, nhưng mỗi ngày vẫn có 19.000 bé trai và bé gái chết vì những nguyên nhân có thể ngăn ngừa. Báo cáo của UNICEF cho biết 4/5 ca tử vong của trẻ dưới 5 tuổi trong năm 2011 diễn ra ở vùng hạ Sahara châu Phi và Nam Á. Hơn một nửa các trường hợp trẻ chết do viêm phổi và tiêu chảy – 30% số ca tử vong của trẻ dưới 5 tuổi – xảy ra ở bốn nước Congo, Ấn Độ, Nigeria và Pakistan. Giám đốc điều hành UNICEF, ông Anthony Lake nói, trẻ em các gia đình khó khăn ở các nước nghèo, kém phát triển hầu như khó thoát khỏi số phận đáng buồn trước sinh nhật lần thứ 5 của chúng, mặc dù mạng sống của các em có thể được cứu nhờ vaccine, chế độ dinh dưỡng hợp lý, thuốc men cơ bản đầy đủ và sự chăm sóc của người mẹ. “Thế giới có đủ công nghệ và biện pháp để làm điều này, thách thức ở đây là làm sao cho mỗi đứa trẻ tiếp cận được những thứ đó”, ông Lake nói. UNICEF nói mặc dù tỉ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi tăng đột biến trong thập niên vừa qua, từ 1,8%/năm trong thập niên 1990 lên 3,2%/năm trong thập niên 2000, vẫn có lý do để phấn khởi là ngày càng nhiều trẻ dưới 5 tuổi sống sót – năm 2010 con số này là 7,6 triệu trẻ, năm 2011 ước tính 6,9 triệu.[1]

Số người chết do động đất tại Nhật Bản hồi tháng 5/ 2011 vừa qua, theo thống kê của cơ quan cảnh sát Nhật Bản tính đến ngày 27/5/2011, số người chết vì thảm họa kép động đất và sóng thần Đông Nhật Bản hồi tháng 3-2011, bao gồm cả dư chấn, đã lên tới 15.247 người[2].

Số người thiệt mạng vì tai nạn giao thông tại Việt Nam trong năm 2011, theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia trong năm 2011, cả nước xảy ra 44.548 vụ tai nạn giao thông, làm 11.395 người chết và 48.734 người bị thương. So với năm 2010 thì tình hình tai nạn giao thông đều giảm trên cả 3 mặt là số vụ, số người chết và bị thương vì tai nạn giao thông. Cũng theo Ủy ban An toàn giao thông trong năm 2011, số lượng ô tô, xe máy đăng ký mới cũng tăng thêm trên 35.800 phương tiện.[3]

Một thống kê khiến ta giật mình, đó là thống kê về số lượng thai nhi bị phá bỏ. (TNO) Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) TP.HCM công bố hôm nay, 22.8.[4] Bà Tô Thị Kim Hoa, Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ, Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cho biết tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai không an toàn tại thành phố đang có chiều hướng gia tăng. Trung bình hằng năm, chỉ riêng trên địa bàn TP.HCM, số thai nhi bị phá bỏ gần bằng 4/5 số trẻ chào đời, cao gấp ba lần cả nước.

Trung Quốc là nước có tỷ lệ tự sát cao, mỗi năm có khoảng 250.000 người chết vì tự sát và 2 triệu người tự sát không thành. Đồng thời tự sát đã trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu của thanh niên và tráng niên Trung Quốc từ 15 tuổi đến 35 tuổi. Theo điều tra của trung tâm Đề phòng bệnh tật Trung Quốc và một số đơn vị khác năm 2000, thì tỷ suất tự sát của Trung Quốc là 22,23/100.000 người và tự sát đã trở thành một trong năm nguyên nhân tử vong lớn nhất nước. Được biết số người tự sát thuộc nhóm người dễ bị tổn thương về địa vị xã hội và kinh tế là khá cao. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, trong 50 năm qua tỷ lệ chết vì tự sát trên thế giới tăng 60%, một nghiên cứu y học có tính toàn cầu vừa công bố nửa đầu năm 2009 cho thấy, mỗi năm có khoảng 1 triệu người trên thế giới chết vì tự sát trong đó cao nhất là Trung Quốc, rồi đến Nhật Bản, Kazakhstan, Phần Lan, Latvia và Hungary (đều trên 20/100.000 ngưòi).[5]

Đó là chưa kể đến những người chết vì thuốc lá. Theo báo cáo của WHO, mỗi năm có khoảng 5 triệu người chết do các bệnh liên quan đến hút thuốc lá, ngoài ra còn có 600.000 người khác chết do bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh hút thuốc[6]. Còn biết bao nhiêu cái chết khác ta không thể kẻ hết ở đây. Xin mượn lại hai câu thơ của thi hào Nguyễn Du để diễn tả cảm xúc về viễn cảnh sự chết:

“Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.” (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Phạm vi bài viết 

Trong phạm vi của bài viết, chúng ta không thể nào thống kê cách chính xác về các loại hình thức của cái chết, cũng không sao đo lường và nắm bắt được số liệu cách chi tiết về số lượng người chết trên mọi phương diện. Tuy nhiên, khi đứng trên góc độ của một con người hiện sinh, đang trải nếm dần sự chết trong bản thân qua lăng kính của đời người kết hợp với một số ít tài liệu sách báo, xin được đề cập đến ý tưởng, quan niệm và cách nhìn của con người đó đây về sự chết và thần chết.

Một vài cảm tưởng về cái chết

Quả đúng như người ta thường nói: đã là người, ai cũng phải chết. Ngoài các truyền thuyết hoặc thần thoại, chưa hề nghe nói có ai trong lịch sử thoát khỏi cái chết. Thần Chết đối xử thật là bình đẳng với tất cả mọi người, tuyệt đối không thiên vị ai, trước sau như một, từ xưa đến giờ và mãi mãi về sau. Chưa hề có một vị vua, một triều đại, một chế độ hay một chủ nghĩa nào muôn năm cả. Tất cả đều phải chết. Về điều này người Trung Hoa cho rằng “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử; Lưu đắc đan tâm chiếu hãn thanh” (Xưa nay người ta ai chẳng chết; cần giữ lòng son rạng sử xanh). Các nhà tư tưởng của Đạo giáo đề ra phương châm “sống chết là do sự biến hóa của khí, thuận theo lẽ tự nhiên.” Vì thế, có nhiều quan điểm cho rằng: “chỉ có mỗi cái chết là muôn năm mà thôi!”[7]. Nhưng thực sự cái chết có muôn năm hay không? Chúng ta sẽ tìm hiểu đôi chút về nó. Từ việc tìm hiểu, hy vọng bạn đọc sẽ ý thức hơn về niềm tin mình đang sống.

Có lẽ trên đời này, bệnh tật, tai nạn, thiên tai và tuổi già.. là những thứ có thể cho con người có dịp suy niệm sâu xa hơn về những vấn đề nhức nhối là đau khổ và cái chết. Song về cái chết thì không hề có kinh nghiệm, vì chẳng ai chết hơn một lần cả. Có lẽ câu trả lời cho vấn nạn đau khổ và sự chết tùy thuộc vào quan niệm của ta về thế giới và tôn giáo mà mình đang theo. Một điều mà ta dễ dàng nhận thấy trước mắt là: nhìn chung, thái độ của con người khi đối diện trước cái chết là sự sợ hãi, coi nó như một điều xấu ghê gớm nhất, và cố tìm đủ mọi cách để xa tránh, để trốn thoát, nhưng chưa hề có ai thành công.

Cái chết đè bẹp hữu hiệu tất cả những nỗ lực chống lại nó. Biết bao nhiêu nỗ lực của con người tìm thuốc trường sinh, để trốn thoát hoặc để chống lại cái chết, cuối cùng chỉ là công dã tràng. Có thành công thì chỉ là kéo dài tuổi thọ một vài năm, nhiều lắm cũng chỉ được chục năm là cùng. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu cũng đã cảnh báo: “Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng mà kéo dài đời mình thêm được, dù chỉ một gang tay?” (Mt 6,27; Lc 12,25). Để nói về tuổi đời con người, Thánh Vịnh nói:

“Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,
mạnh giỏi chăng là được tám mươi,
mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,
cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi” (Tv 90,10).

Đứng trước định mệnh khắt khe đó, người ta dễ có một nhận định sầu thảm đôi khi sinh ra một thất vọng chán chường (x. Sm 12,23).

Tuy nhiên, với thi hào R. Tagore thì ông cất lên rằng:

“Ôi! Thần chết, ngươi làm cuộc đời tràn đầy lần cuối … Những gì ta là, những gì ta có, những gì ta hoài mong, những gì ta yêu thương, tất cả vẫn sâu xa bí mật trôi chảy về ngươi. Chỉ một ánh nhìn từ mắt ngươi lần cuối là đời ta vĩnh viễn thuộc về ngươi. Hoa đã kết thành tràng, sẵn sàng chờ đợi tân lang. Sau tiệc cưới, giai nhân sẽ rời nhà, một mình ra đi gặp tân lang trong đêm tối quạnh hiu” [8].

Sinh ra trong danh phận kiếp người, chẳng ai trong chúng ta muốn chết cả, ai cũng muốn sống hoài sống mãi, sống trường niên bách lão… nhưng đó chỉ là một khát vọng mơ hồ không bao giờ được thỏa mãn. Nghĩ thế, nhiều người cho Tạo Hóa thật là oái oăm: một đằng thì đặt nơi con người khát vọng sâu xa muốn sống mãi, một bản năng tự vệ để bảo tồn sự sống rất mạnh, nhưng đằng khác lại để cho cái chết luôn luôn toàn thắng, khiến cho cơn khát đó của con người dường như vô phương cứu chữa. Một cơn khát không có thứ nước nào thích hợp uống cho đã khát! Nỗi khao khát đó mạnh đến nỗi: Thà sống khổ còn hơn là phải chết!

“Ðành chết là hết nợ,
Thế mà ai cũng sợ,
Mới hay bụng thế gian,
Khổ mà sống còn hơn!” (Sưu tầm).

Chết là gì mà người ta phải sợ hãi và trốn tránh như thế? Bản chất của sự chết là gì? Chết có phải là hoàn toàn hết sống hay chết là chuyển sang một hình thức sống khác? Chết rồi đi đâu?[9]

Triết học và tôn giáo ngoài Kitô giáo quan niệm về cái chết như thế nào?

Các nhà tư tưởng Nho giáo ở Trung Quốc chủ trương “sống chết có số, phú quý ở trời.” Dường như họ chỉ chú trọng đến sự sống, ít quan tâm đến cái chết. Khổng Tử thì chỉ nói “chưa biết chuyện sống, sao biết chuyện chết.”[3] Nho giáo quan niệm, tuy đời người có hạn nhưng tu dưỡng học vấn đạo đức có thể khiến tinh thần trở nên vĩnh hằng bất tử. Riêng Trang Tử coi cái sống và cái chết là lẽ tự nhiên, bình thường và bình đẳng, nên ông chẳng xao xuyến gì trước cái chết, thản nhiên ra vào cuộc đời: “Bậc chân nhân không ham sống, không sợ chết, vào không vui, ra không buồn, thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi.” Đối với ông, sống chết cũng giống như chuyện Được Mất, mà Được là thời, Mất là thuận. “Thuận Thiên giả tồn,” cứ theo ý Trời thì chẳng phải lo sợ gì. Cũng có những chủ thuyết khác tránh né vấn đề sự chết, chỉ lo sống thôi. Tránh né cũng là hình thức lo sợ, không dám tìm hiểu, không dám đả động đến.
 
Theo giáo lý của đạo Bà-la-môn thì chết là trở về với Brahman, tức là hồn của vũ trụ. Cái Hồn Vũ Trụ như trong học thuyết Platon cũng như Ấn Độ Giáo nói chung, đó là trung tâm của vũ trụ và vạn vật. Mọi sinh linh của vạn vật sau một thời gian sẽ trở về lại với Hồn vũ trụ, nơi phát xuất ra vạn vật[10].

Quan niệm của những người thờ cúng tổ tiên thì thế nào?

Theo tín ngưỡng của người Việt Nam nói riêng và Á Đông nói chung quan niệm: “con người sở dĩ sống được là nhờ hiệu năng các nguyên lý thượng đẳng, đó là Hồn. Và nguyên lý hạ đẳng đó là Vía. Người có ba Hồn, đàn ông thì có 7 Vía, đàn bà có 9 Vía"[11]. Các nguyên lý không hoàn toàn tiêu tan khi con người chết đi, mà tồn tại mãi. Trong đó có nguyên lý gắn với thể xác, có nguyên lý gắn với bài vị, lại có nguyên lý lang thang đó đây. Hơn nữa người sống và người chết luôn có quan hệ mật thiết với nhau. Bởi thế nên mới sinh ra việc thờ cúng tổ tiên và nghi lễ cúng giổ để tưởng nhớ và giúp đỡ người đã khuất.

Cũng từ quan niệm đó mà người Việt Nam có rất nhiều tín ngưỡng, lễ nghi để hướng về người chết. Trong nă, ngày một đầu tháng, và lớn nhất là Rằm tháng bảy. Một số tộc người có nền văn hóa nông nghiệp ngưng đọng như ở Tây Nguyên, họ còn bảo lưu quan niệm người chết không tan biến. Cái chết chỉ là sự chia tách giữa hồn và xác, thân xác sẽ rựa, hồn bất tử. Thế giới cõi âm không khác gì thế giới con người cõi dương này, cũng cày cấy, cũng nuôi trâu bò, lợn gà, nhà cửa, đồ dùng. Chỉ khác điều là mọi vật đều ngược lại: đi lùi, gùi thủng, chiêng vở, ..Từ đó mà họ còn giữ lấy tục chia của cho người chết. Một số bộ tộc trên thế giới cũng như ở Việt Nam còn quan niệm có sự phục sinh thân xác, vì thế người ta đã ướp xác trước khi cải táng người chết[12].

Triết học phương Tây, có Platon- Một nhà triết học duy tâm xuất sắc của Hy Lạp cổ đại là đại diện tiêu biểu trong việc tìm hiểu vấn đề liên quan sự sống và cái chết của con người. Trong các tác phẩm của mình, Platon đã định nghĩa chết là sự tách bạch phần vô hình còn gọi là phần phi vật thể của một sinh vật (tức phần hồn) ra khỏi phần hữu hình (vật thể) tức là phần xác. Hơn thế nữa, Platon còn cho rằng linh hồn một khi đã lìa khỏi thể xác, có thể gặp lại những linh hồn khác và để họ hướng dẫn đi qua giai đoạn quá độ sang thế giới bên kia[13]. Có thể nói theo  Platon trong mỗi con người luôn tồn tại hai phần thể xác và hồn, cũng như tồn tại thế giới cho linh hồn sau khi chết. Còn J. Sartre, nhà triết hiện sinh vô thần thì coi cái chết cũng vô lý như sự sống vậy. Còn Hégel cho rằng, chết là tan mất trong tinh thần tuyệt đối. Hầu hết các thuyết duy vật đều quan niệm cái chết là một hiện tượng tự nhiên, thuộc quy luật sinh lý, tức là việc tiêu tan các yếu tố lý hóa đã khiến cho thân thể sống động. Nhưng chung quy lại, mọi học thuyết vô thần đều đáng phê phán. Bởi vì nếu con người chết là hết thì thật là phi lý.

Vì từ khi học thuyết vô thần và chủ nghĩa duy vật ra đời thế giới dường như đi vào đêm đen của sự chết chóc, mất dần đi những tinh hoa văn minh nhân loại, đồng thời nhân loại phải chồng chất trên vai những gánh nặng bệnh tật, chiến tranh, lòng thù hận cũng như mất dần phương hướng. Phần lớn những người tôn thờ các học thuyết vô thần và duy vật đang trên đà mất dần bản tính người mà sống thiên về thế giới của động vật, thậm chí có kẻ biến chất thành dã thú. Đặc biệt hơn là vô thần trong thực tiễn, thực trạng các tệ đoan trong xã hội trong vài thập niêm qua cho ta bằng chứng về sự khủng hoảng niềm tin nơi con người. Thật đúng như câu nói bất hủ của thi hào Victo Huygo: “Trong tất cả mọi nỗi sợ hãi, điều đáng sợ nhất là những kẻ không tin vào một thứ gì trên đời.” Bởi khi họ không có niềm tin, họ sẵn sàng làm bết cứ điều gì họ muốn. Chẳng hạn như tội buôn bán phụ nữ và trẻ em vùng biên giới Việt Trung, lạm dụng tình dục trẻ em khắp nơi, hay khu nô lệ tình dục tại đất nước Thái Lan… Không có niềm tin vào hạnh phúc đời sau, chết là hết thì thật là phi lý, chẳng nhẽ kết thúc cuộc đời rốt cuộc những người ăn ngay ở lành, bác ái từ bi lại cũng chỉ có được kết cục như những kẻ có tâm địa độc ác, sống bất nhân và vô lương tri?

Quan niệm Phật Giáo về sự chết thì thế nào?

Người Phật giáo coi cái chết là một trong 4 khâu của định luật “thành, trụ, hoại, diệt”. Bất cứ sự vật nào thuộc thế giới hiện tượng, nghĩa là có hình có tướng, đều phải trải qua bốn giai đoạn của hiện hữu: Thành (từ chưa có trở nên có), Trụ (tồn tại một thời gian), Hoại (bị hư hoại, yếu dần, suy thoái), và Diệt (cuối cùng bị tiêu diệt, mất đi, không còn tồn tại nữa). Chết chính là khâu cuối cùng của 4 giai đoạn hiện hữu trên cho mọi vật sống, mọi chúng sinh, là giai đoạn từ có trở về không[14].

Ðịnh luật “thành, trụ, hoại, diệt” là định luật phổ quát tuyệt đối cho tất cả mọi sự vật vô thường (hay thay đổi) trong thế giới hiện tượng: Theo định luật này, phàm cái gì có sinh thì phải có diệt, chỉ những cái không sinh mới không diệt thôi. Hễ cái nào đã từng sinh ra, nghĩa là trước chưa có mà sau lại có, ắt thuộc loại bất tất, vô thường, hay thay đổi, mà thay đổi tức là phải “thành, trụ, hoại, diệt”, nghĩa là cuối cùng phải bị hủy hoại, tiêu diệt, chết. Không thể có sinh mà không có tử, cũng như không thể có tử mà trước đó đã không sinh. Vì thế, Phật Giáo không thể chấp nhận một linh hồn đã được sinh ra mà sau đó lại tồn tại vĩnh cửu, hay một thể xác sống lại để rồi tiếp tục sống mãi. Nếu có một linh hồn bất tử, thì linh hồn đó ắt phải có từ trước muôn đời không do ai sinh ra cả. Mà hễ do một nhân duyên nào sinh ra, ắt phải có ngày hủy diệt[15].

Như vậy, con người sinh ra rồi chết đi có phải là hết không? Thưa không, vì tuy sinh ra ắt phải chết, nhưng chết rồi lại phải sinh ra nữa. Cứ như vậy mãi. Cũng như một ngày sinh ra ban sáng, chết đi ban tối, rồi lại sinh ra vào sáng hôm sau, cứ như vậy liên tục mãi mãi. Hay như một năm sinh ra vào mùa xuân đầy sức sống, lên đến mức trưởng thành vào mùa hạ, yếu đi vào mùa thu, rồi tàn tạ và chết đi vào mùa đông, để rồi lại sinh ra vào mùa xuân năm sau. Cứ như thế liên tu bất tận. Ðó gọi là luân hồi. Cũng vậy, con người sinh ra chết đi ở kiếp này rồi lại sinh ra và chết đi ở kiếp sau. Cứ như thế liên tục mãi. Như vậy, trước kiếp hiện tại ta đang sống, thì ta cũng đã từng sống hằng hà sa số kiếp, và sau kiếp sống này, ta còn sống hằng hà sa số kiếp sống khác nữa. Cuộc sống hiện tại là do kết quả của kiếp trước ta sống. Nếu sống tốt thì kiếp sau sẽ là quả phúc, còn sống xấu thì ắt sẽ gặp quả báo. Có thể phải sinh làm kiếp bọ ngựa, bò hung hat bất cứ loài vật nào. Các kiếp trước đây hoặc sau này, ta có thể là người mà cũng có thể là những loại chúng sinh khác cao hơn hoặc thấp hơn người, có thể ở trái đất này mà cũng có thể ở những nơi khác không phải là trái đất. Ai đã từng xem bộ phim Tây Du Ký thì phần nào hiểu được tư tưởng Phật Giáo trong thuyết luân hồi này.

Đọc cuốn sách “Tạng Thư Sinh Tử – Sách Bàn Về Sự Sống Và Cái Chết” ta có thể thấy, trong tác phẩm này, Sogyal Rinpoche tập trung vào các vấn đề làm sao để hiểu ý nghĩa thực thụ của sự sống, làm sao để chấp nhận cái chết, làm sao để giúp đỡ người sắp chết, và người đã chết. Tác giả có khuynh hướng nghĩ đến sự chết cũng như thay bộ y phục khi đã cũ mòn, hơn là một cái gì đó hoàn toàn chấm dứt. Tuy vậy, cái chết không thể biết trước vì ta không biết được khi nào cái chết đến, và mình sẽ chết như thế nào. Bởi thế, tốt hơn cả là ta hãy dự phòng một số việc trước khi cái chết thực sự xảy ra. Với người công giáo, việc làm quan trọng thứ nhất và cần nhất đó là lo cho phần rỗi của linh hồn. Đương nhiên là phần đông ở đời, ai cũng đều muốn có một cái chết yên ổn và được thanh thản ra đi. Muốn thế, phải học cách sống tốt. Nếu đời sống của mình đầy những bạo hành, dã tâm, vô luân, thì ắt người đó đứng trước cái chết sẽ giao động vì những cảm xúc mạnh như giận dữ, ái luyến hay sợ hãi. Bởi vì, Lúc chết thực sự cũng là lúc mà những kinh nghiệm nội tâm xảy ra sâu sắc nhất.

Quan niệm của Kitô giáo về sự chết

Là người Kitô Hữu, chúng ta đã được Giáo Hội trả lời cho những câu hỏi đó bằng cả một thần học về sự chết, về sự sống sau khi chết. Người Kitô Hữu nào cũng tin rằng chết không phải là hết mà là bước vào một cuộc sống mới vĩnh cửu. Cuộc sống vĩnh cửu này sướng hay khổ là do cuộc sống hiện tại này ta có tin vào Thiên Chúa, vào Ðức Kitô và có sống phù hợp với niềm tin ấy hay không. Người Kitô Hữu còn tin rằng ngay cả thân xác này cũng sẽ sống lại vào ngày tận thế để trở thành thân xác bất khả hư hoại hầu sống đời sống vĩnh cửu, để được thưởng hoặc chịu phạt muôn đời. Niềm tin căn cứ vào sự phục sinh từ cỏi chết của Đức Kitô. Chính Đức Giêsu Kitô, Ngài là vị Thiên Chúa đã chết để gánh tội nhân loại và chính Ngài đã hoàn toàn chiến thắng sự chết, đem lại sự sống muôn đời cho những ai có niềm tin vào Ngài[16].

Bởi đức tin công giáo coi đau khổ là một phương thế liên kết một người với Đức Kitô, Đấng đã dùng đau khổ và sự chết để tôn vinh Thiên Chúa Cha. “Chúng ta mang trong mình sự chết của Đức Kitô, để sự sống của Người có thể được biểu hiện nơi thân xác chúng ta” (2Cr 4,10). Khi chết, người ki tô hữu được hiệp nhất với Đức Kitô, sự kết hợp đã bắt đầu khi lãnh nhận phép Rửa tội, được đổi mới và củng cố bởi Bí tích sám hối và Thánh Thể, nay được hoàn toàn mỹ mãn. Khi chết người tín hữu tự dâng cho Thiên Chúa hành vi tự hiến cuối cùng của mình, họ chết cho Chúa như họ đã từng sống cho Chúa[17].

Chết theo giáo lý công giáo là gì? Và tại sao con người lại phải chết? Kinh Thánh trong sáng thế ghi lại rất rõ rằng, vì con người phạm tội, và hậu quả của nó là đưa đến án phạt sự chết: mọi loài có sinh khí trong lỗ mũi, mọi loài ở trên cạn đều chết” (St 7,22); Thánh Phaolô trong thư Rôma nhắc lại nhiều lần: “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập vào thế gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” ( Rm 5,12).

Và chết chính là lúc mà linh hồn lìa khỏi thân xác. Song linh hồn chẳng hề hư nát như thân xác, mà linh hồn vẫn sống trong sự đợi chờ để được phục sinh và kết hiệp cùng thân xác phục sinh mà chịu sự phán xét: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9,27). Có hai cuộc phán xét, cuộc phán xét thứ nhất là phán xét riêng, khi linh hồn vừa lìa khỏi thân xác thì đến trước tòa Chúa để chịu phán xét. Chúng ta tin rằng: “Trong một giây lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên, những kẻ chết sẽ trỗi dậy mà không còn hư nát ; còn chúng ta, chúng ta sẽ được biến đổi” (1Cr 15,52). Tuy nhiên, phải tin trong sự chờ mong từ cơn đau quằn quại để sinh hạ chính mình, cũng như toàn thể tạo vật đang rên siết để chờ ngày cứu độ (x. Rm 8, 22).

Sau cái chết sẽ thế nào?

Theo quan điểm Phật Giáo thì gieo nhân nào sẽ gặt quả đó. Quan niệm ở đời thường nhấn mạnh “thưởng lành, phạt dữ” trước là để răn đe và mục đích rốt hết vẫn là giáo dục nhân sinh. Sách Châm ngôn cũng nói: “Kẻ gieo tai ác sẽ gặp tai ương, nó đã tàn phá ắt sẽ tàn lụi” (Cn 22,8); Hay: “Vì bọn bất lương chẳng có tương lai, và ngọn đèn của phường gian ác sẽ lụi tàn” (Cn 24,20). Và trong Tin Mừng Chúa Giêsu đã cảnh báo cho chúng ta biết, đến ngày tận thế số phận ác nhân sẽ bị “quăng vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác quỷ và các sứ thần của nó, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13,42; 13,50). Văn hóa và các tôn giáo Á Đông, nhất là ở Việt Nam cũng ghi lại 18 tầng địa ngục mà Thượng Đế sẽ dùng vào việc thưởng lành, phạt dữ.

Những người ăn ngay ở lành ắt sẽ được thưởng công bội hậu. Trong Bài Tám Mối Phúc, mà Tin mừng Matthêu, chương 5 từ câu 1 đến câu 7 đã ghi lại với điệp từ: “nước trời là của họ”. Phần thưởng dành cho người thánh thiện, đó là nước trời vinh hiển, được chiêm ngưỡng dung nhan Thiên Chúa cùng với muôn triều thần thánh trên trời (Mt 25,21-23; Ga 15,11).

Nếu lúc sống biết nỗ lực cố gắng tối đa trong mọi việc thì cuối đời có thể ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản không hối hận điều gì. Nhưng nhìn vào thế giới hôm này, ta có cảm giác con người ta sống một cách vội cả, cuồng dại và thậm chí sống bất cần lý tưởng. Phải chăng con người ngày nay chịu ảnh hưởng rất sâu đậm học thuyết vô thần, duy vật. Sách Tu đức học có ghi lại những câu châm ngôn rẻ tiền mà thế gian thường khuyên răn và bảo vệ lỗi sống buông thả của mình:

“Đời người chóng lắm ai ơi,
chẳng ăn cũng thiệt, chẳng chơi cũng hoài;
Chơi xuân kẻo hết xuân đi,
Cái già sồng sộc ấy thì theo sau;
Lẳng lơ chết cũng ra ma,
Chính chuyên chết cũng tha ra ngoài đồng”[18].

Sự chết nhắc nhở ta về bản chất thật ngắn ngủi, thật mong manh phù du của đời sống con người trên dương thế. Niềm tin về một thế giới mai sau sẽ hữu ích rất lớn cho những kẻ đang trên đường lữ hành dương thế. Mọi người biết lựa chọn cho mình tôn giáo, niềm tin đúng đắn nhất, hầu mai này đón nhận được ơn cứu độ thực sự. Chỉ căn cứ vào thời khắc trước lúc chết của một con người, người ta cũng phần nào đoán được số phận người đó sẽ thế nào. Tuy rằng không ai có quyền xét đoán anh em (Mt 7,1-2; Lc 6,37; Ga 7,24). Dưới đây là một vài kết luận mà các nhà nghiên cứu đưa ra về thời khắc trước lúc con người nhắm mắt lìa đời:

William Barrett (1925), Nhà nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về trạng thái con người cận kề cái chết, vừa là giáo sư vật lý vừa chuyên về đời sống tâm linh. Cũng như Karlis Osis và Hội nghiên cứu tâm linh Mỹ (1959-1973), phối hợp với Haraldson ở Ấn Độ. Họ đã thu thập dữ liệu của hàng vạn người về kinh nghiệm cận tử. Họ cho thấy biết, hầu hết các trường hợp đều có những đặc điểm chung, chẳng hạn như thấy ánh sáng tỏa ra, cảnh quang tuyệt mỹ, trạng thái nhẹ nhàng, cảm giác vô cùng thanh thản, và gặp lại những người thân yêu. Riêng trường hợp những người tin vào Đức Kitô, thì được gặp Đức Mẹ, các Thánh, khiến họ vui mừng, hạnh phúc, không còn cảm giác đau khổ. Tuy nhiên, trong số đó vẫn có một số người phản ứng với vẻ sợ hãi hoặc từ chối[19].  Cũng tùy vào niềm tin mà người ta thường có cách thức giúp đỡ người sắp lìa đời biết sẵn sàng chờ đợi và đón nhận cái chết trong bình an. Đặc biệt là những người già cả hay ốm đau nặng lâu ngày mà theo linh tính của người bệnh cũng như theo phán quyết của bác sỹ là người đó sẽ qua đời trong thời gian gần. Đối với người ki tô hữu thì giáo dân, hội đoàn mà trước hết là anh em con cháu thường tụ lại gần bên người hấp hối để đọc kinh, cầu nguyện cho người chết được hưởng ơn chết lành. Việc kêu tên trọng, phó dâng linh hồn người sắp lìa đời trong tay Thiên Chúa, nhất là phải lo chuẩn bị các Bí tích cuối cùng cho họ, khuyên họ giữ trọn một niềm phó thác trong tay uy quyền của Đức Lang Quân của linh hồn.

Một vài tóm kết

Mỗi con người được sinh ra và lớn lên, ai cũng đã từng nhìn thấy, hoặc nghe biết về cái chết song chưa một lần kinh nghiệm, vì chẳng ai chết hơn một lần. Tuy rằng cái chết không ai có thể tránh khỏi nhưng chúng ta phải biết chấp nhận và làm bạn cùng cái chết, bởi trước sau gì nó cũng đến với chúng ta. Cái chết đến bất cứ lúc nào, bất cứ ai và bất cứ hoàn cảnh nào. Thời điểm sinh ra là lúc chúng ta bắt đầu di dần vào cõi chết. Để luôn giữ được tâm hồn bình thản trước cái chết, chúng ta cần phải biết sống cuộc đời hiện tại cách tốt đẹp nhất. Cái chết tuy nó đưa con người đến tận số, bước xa cuộc đời trần thế. Nhưng không phải là dấu chấm tận, mà nó là vừa dấu chỉ và cũng là điều kiện để chúng ta bước vào sự sống bất diệt. Số phận con người sau cái chết là tùy thuộc vào đời sống hiện tại, mình tin vào ai và thực hành niềm tin ra sao. Sứ mạng của người có niềm tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Kitô thì phải thực thi những giáo huấn của Ngài. Ớn cứu độ mà Thiên Chúa ban xuống là không ngoại trừ ai. Tuy nhiên, một khi đã lãnh nhận đức tin nơi Giáo Hội, người tin hữu phải sống mẫu mực để biến mình thành chứng nhân cho niềm tin đó. Nghĩa là mình phải luôn cầm đèn sáng trong tay để khi ông chủ trở về, nghĩa là khi Chúa gọi, ta sẵn sàng từ bỏ mọi sự mà ra đi. Vì Chúa sẽ đến bất ngờ, vào giờ chúng ta không biết (Lc 12, 40 – 47); nếu ta sẵn sàng và luôn dọn tâm hồn trong sạch, thì khi Chúa đến gọi ta, lúc bấy giờ Chúa sẽ tuyền bố: “hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ ngươi” (Mt 25,23).

Hương Rừng
Giuse Trần Công Hường
________________________________________
[1]http://phunuonline.com.vn/the-gioi/24h-qua/unicef-moi-ngay-co-19-000-tre-em-chet-vi-nhung-can-benh-co-the-ngan-ngua-/a74202.html
[2]http://phapluattp.vn/2011052808085217p1017c1076/dong-dat-nhat-ban-khien-hon-15000-nguoi-chet.htm
[3]http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Xa-hoi/536559/nam-2011-ca-nuoc-xay-ra-44548-vu-tai-nan-giao-thong.htm
[4]http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120822/so-thai-nhi-bi-pha-bo-gan-bang-4-5-so-tre-chao-doi.aspx
[5]http://www.baomoi.com/Moi-nam-co-250000-nguoi-chet-vi-tu-sat/119/3174433.epi
[6]http://vov.vn/Suc-khoe/5-trieu-nguoi-chet-vi-thuoc-la-moi-nam/203267.vov
[7]Lão Tử, Đạo đức kinh (bản dịch), NXB Trẻ, H,2003, tr.89.
[8]Rabindranath Tagore, Lời Dâng, NXB Đà Nẵng, 2001, bài số 91, tr. 110.
[9]Giáo Lý Công Giáo, SDD, Phần dẫn nhập.
[10]Xem ĐCV Vinh Thanh, Triết Học Nhập Môn, Tài liệu lưu hành nội bộ .
[11]Nguyễn Thế Thoại, Tôn giáo học và các tôn giáo ở Việt nam, NXB Tôn giáo, trang 126.
[12]Lê Như Hoa chủ biên, Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, 2001. Trang 141.
[13]Raymond A.Moody Jr, Sự sống sau khi chết, NXB Lao động, H, 2008, tr23
[14]Lý Tường Hải, Khổng Tử (bản dịch), NXB Văn hóa thông tin, H,2005, tr145.
[15]Mười Tôn Giáo Trên Thế Giới, Chương VIII, Đạo Phật, NXB Chính trị quốc gia, trang 285 -376
[16]Sách Giáo lý công giáo, Phần thứ nhất, chương 3, mục 11 “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”, trang 375.
[17]Nguyên tác: Christian Ethics, Đạo đức kitô giáo, Thần Học Luân Lý dưới ánh sáng Công Đồng vatican II, Thần học luân lý chuyên biệt 2, trang 304.
[18]Phạm Châu Diên, Tu Đức Học, tủ sách Van Đoàn Ra Khơi, Quy Nhơn 1961, trang 75.
[19]Rosemary Ellen Guiley, Tự điển tôn giáo và các thể nghiệm siêu việt, NXB Tôn Giáo, 2005, tr. 215-217; 585-587.
 
Nguồn tin: