Những Dấu Ấn Cựu Ước Về Thiên Chúa Ba Ngôi (2)

Fri,06/11/2020
Lượt xem: 110

II. MẠC KHẢI VỀ KHÔN NGOAN, LỜI VÀ THẦN KHÍ

Trong lịch sử của Ítraen và trong các sách Kinh Thánh, Cựu Ước quan niệm Khôn Ngoan, Lời và Thần Khí được dùng như là những tác nhân được nhân cách hóa để diễn tả hoạt động của Thiên Chúa. Vì là những lối nhân cách hóa nên chúng không được nhìn nhận một cách chính thức như là những ngôi vị, dầu chúng mang những đặc tính ngôi vị, hay như những chủ vị. Bởi niềm tin của Cựu Ước là niềm tin độc thần.

Chúng ta hãy tìm hiểu về những diễn tả nhân cách hóa này qua các hình ảnh trong Cựu Ước. Chúng sẽ là những ngôn ngữ được dùng trong Tân Ước để diễn tả kinh nghiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi. Trước hết, chúng ta tìm hiểu về Khôn Ngoan.

1. Khôn Ngoan Sophia hay Sapientia

Hokmah – Khôn Ngoan (như một danh từ, một tính từ, hoặc một động từ) xuất hiện 318 lần trong Cựu Ước, và gần 75 % lần xuất hiện diễn ra trong sách Gióp, sách Châm Ngôn, sách Giảng Viên, sách Huấn Ca và sách Khôn Ngoan.

Những lời khuyên Khôn Ngoan cũng được tìm thấy ở một số nơi khác: ví dụ, Tôbia 4,3-21; 12,6-13; và Barúc 3,9-4; 4. Khôn Ngoan được nhân cách hóa hoặc Sophia có mối liên hệ mật thiết với công trình sáng tạo, quan phòng và cứu độ của Thiên Chúa. Khôn Ngoan phát triển trong phẩm giá và sức mạnh song song với tư tưởng minh triết của Cựu Ước. Ở trong niềm tin độc thần, Khôn Ngoan có những chức năng và phẩm tính của YHWH, và trong một tôn giáo rất nặng tính gia trưởng, Khôn Ngoan nổi bật những đặc tính hay cách thế thuộc nữ tính. Chúng ta hãy tìm hiểu sự phát triển theo thời gian của nó, bao nhiêu có thể, từ sách Gióp đến sách Khôn Ngoan.

Có lẽ được biên soạn vào thế kỷ thứ VII TCN và sau đó người ta thêm vào một số dữ kiện, sách Gióp bất ngờ trình bày Khôn Ngoan ngay ở phần cuối của một cuộc đối thoại dài giữa Gióp và ba người bạn của ông trong một bài thơ mà các nhà chú giải gọi bằng những từ khác nhau: màn xen vào, một cầu nối, hoặc là một sự lồng vào. Bài thơ nhấn mạnh tính bất khả thấu huyền nhiệm của Khôn Ngoan Thiên Chúa, mà nó hoàn toàn vượt trên sự tìm kiếm của con người (G 28,12-14.20-21), rất quý giá (G 28,15-19), và chỉ có Thiên Chúa mới thông hiểu và thấu suốt (G 28,23-27).

Tại giai đoạn đầu suy tư này, Gióp 28 ca tụng và không có nhân cách hóa một cách chính thức Khôn Ngoan. Ở đây, sự Khôn Ngoan xuất hiện vì có liên hệ với các công trình tạo thành, và đã phân biệt với bất kỳ công trình tạo thành đặc thù nào. Thiên Chúa, Đấng điều khiển gió, biển cả, mưa, và sấm chớp, chỉ mình Người có thể thấy và biết được con đường tới Khôn Ngoan. Mặc dầu nhiều tính chất đến sau của Khôn Ngoan không được thể hiện trong bài thơ này từ sách Gióp, một nét đặc trưng thường hằng nổi lên: tính bất khả thẩm thấu của nó. Khôn Ngoan sẽ luôn luôn được nhìn nhưng là quà tặng thần linh hơn là những thành tựu của con người. Các sách Châm Ngôn, Huấn Ca và Khôn Ngoan có lẽ trình bày tính năng động của Khôn Ngoan, Đấng mời gọi mọi người tới dự lễ của mình, Đấng ngự ở Giêrusalem, và ân cần xuất hiện với những ai yêu mến Đức Khôn Ngoan.

Tuy nhiên, sự khởi đầu vẫn là của Đức Khôn Ngoan. Tính bất khả thấu huyền nhiệm này sẽ được suy tư trong lời giáo huấn của thánh Phaolô về Đức Giêsu chịu đóng đinh. Chỉ có những ai để cho Thiên Chúa làm như vậy mới có thể nhận ra Người là sức mạnh và là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Điều mà họ tuyên xưng xuất hiện một cách điên rồ đối với tất cả những ai chạy theo sự khôn ngoan của thế gian và đã không đón nhận ân sủng để biện phân Khôn Ngoan thần linh trong con người, mà đối với họ đời sống kết thúc trên cây thập giá (1Cr 1,18-2,8).

Khi đã xem lại một số hoặc cả những bản văn rất lâu đời, sách Châm Ngôn hình như biên soạn từ sau thế kỷ VI hoặc trước thế kỷ V TCN. Khôn Ngoan xuất hiện phần lớn ở trong chín chương đầu cuốn sách (1,20-33; 3,13-24; 4,5-9; 8,1-9,6). Giống như một tiên tri, Khôn Ngoan công bố sứ điệp của mình, khi đặt trước các thính giả một chọn lựa: hoặc là điên rồ và chuốc lấy tai họa hoặc kính sợ Thiên Chúa và sống mãi (Cn 3,15.18). Quý hơn cả đồ trang sức, Khôn Ngoan minh chứng cây sự sống cho những ai biết ôm lấy nó (Cn 3,15.18). Yêu sách của Khôn Ngoan thì rất bi thảm: lắng nghe lời Khôn Ngoan sẽ mang lại ơn cứu độ, trong khi bất tuân phục sẽ chuốc lấy sự hủy diệt. Vai trò của Khôn Ngoan trong tạo thành được loan báo (Cn 3,19), và được phát triển khi diễn tả rất thú vị về tương quan nguyên thủy với Thiên Chúa và tạo thành (Cn 8,22-31). “Được sinh ra” hoặc “được tạo thành” “xa xưa” như là con đầu lòng của Thiên Chúa (Cn 8,22), Sophia không chỉ hiện hữu với Thiên Chúa trước khi có mọi sự mà còn cộng tác trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa (Cn 8,30-31). Vui thích trong việc cộng tác của Thiên Chúa và cả trong cộng đoàn nhân loại, Sophia được mạc khải ở đây có sự liên hệ sâu xa với Thiên Chúa, với tất cả thụ tạo, và trong một cách thế đặc biệt, với con người. Cuối cùng, Châm Ngôn 9,1-6 miêu tả Khôn Ngoan như là xây dựng căn nhà mình và mời những người đơn sơ đến tham dự tiệc với thức ăn và rượu là biểu tượng của giáo huấn và nhân đức đến từ Thiên Chúa.[1]

Căn nhà của Bà Chúa Khôn Ngoan và bữa tiệc sẽ cung cấp ngôn ngữ cho Tân Ước và khoa chú giải sau Tân Ước về Chúa Giêsu, Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa trong ngôi vị.

Trong những sách Đệ Nhị Quy Điển cổ nhất và những sách lâu đời nhất của Kinh Thánh, sách Huấn Ca chứa đựng mẫu gương khái quát nhất về văn chương Khôn Ngoan Do Thái mà chúng ta có. Nó được viết bằng tiếng Do Thái vào khoảng năm 180 TCN và hai thế hệ sau được dịch sang tiếng Hy Lạp.[2] Khôn Ngoan xuất hiện ngay ở trang đầu của cuốn sách (Hc 1,1-30), ở giữa cuốn sách (Hc 24,1-34), và ở cuối sách (Hc 51,1-27). Tại tòa án trên trời, Sophia tuyên bố nguồn gốc thần linh của mình:

“Ta phát xuất từ miệng Đấng Tối Cao và như mây mù, Ta bao phủ cõi đất. Ta cắm lều trên nơi cao thẳm và đặt ngai Ta trên cột mây. Duy có mình Ta đi vòng cả bầu trời và rảo bước khắp vực sâu thăm thẳm. Trên sóng biển, trên toàn cõi đất, trên mọi nước mọi dân, Ta nắm trọn chủ quyền. Giữa chúng hết thảy, Ta tìm chốn nghỉ ngơi, xem có gia nghiệp của ai để Ta cư ngụ” (Hc 24,3-7).

Sophia đi ra “từ miệng của Đấng Tối Cao” giống như Lời thần linh, cư ngụ giống Thiên Chúa “trên trời cao,” và được ngự trên ngai như Thiên Chúa “ngự trên một cột mây.” Giống Thiên Chúa, Đức Khôn Ngoan hiện diện khắp mọi nơi (từ “các vòm trời” đến “đáy các vực thẳm” và trên “mỗi người và mỗi dân tộc”). Đức Khôn Ngoan bao phủ “địa cầu giống như sương mai,” đồng thời giống với Thần Khí Thiên Chúa hoặc Hơi Thở bao phủ mặt nước lúc tạo thành (St 1,2).

Đức Khôn Ngoan tìm kiếm một ngôi nhà vĩnh viễn (‘một chốn nghỉ ngơi’). Trong một cuộc đối thoại với Đức Khôn Ngoan (mà không đối chiếu với trường hợp Lời và Thần Khí), Đấng Tạo Thành đã chọn một nơi cho Người ngự:

“Bấy giờ, Đấng tác thành vạn vật truyền lệnh cho Ta, Đấng tạo thành Ta dựng lều cho Ta ở. Người phán: ‘Hãy cắm lều ở Giacóp, hãy hưởng phần sản nghiệp ở Ítraen.’

Người đã dựng nên Ta trước muôn đời, từ khởi thuỷ, và Ta sẽ tồn tại mãi đến muôn đời. Trong lều thánh, trước nhan Người, Ta thi hành thánh vụ và như thế, Ta định cư tại Xion. Ta cũng nghỉ ngơi trong thành đô yêu dấu, tại Giêrusalem, Ta nắm chủ quyền” (Hc 24,8-11).

Khi hiện hữu với Thiên Chúa “ngay từ nguyên thủy” và khi tận hưởng sự tồn tại vĩnh hằng, Sophia đã theo đuổi sự chọn lựa thần linh của Ítraen và lấy Giêrusalem làm nhà mình. Được định cư ở thành thánh, Người gửi lời mời tới dự bàn tiệc cao quý của mình:

“Hỡi những kẻ khao khát Ta, nào hãy đến, hãy ăn cho no thoả hoa trái của Ta. Vì nhớ đến Ta thì ngọt ngào hơn mật và được Ta làm gia sản thì ngọt hơn tảng mật ong. Ai ăn Ta sẽ còn đói, ai uống Ta sẽ còn khát” (Hc 24,19-21).

Ở đây chính Sophia là thức ăn và của uống, nguồn của lương thực và sự sống. Tân Ước sẽ áp dụng ngôn ngữ này cho Chúa Giêsu (Mt 11,28), trong khi Gioan sẽ đi xa hơn sách Huấn Ca khi phác họa chân dung Chúa Giêsu như là sự thỏa mãn vĩnh cửu: “Ai đến với Tôi, không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ” (Ga 6,35).

Ở điểm này, Huấn Ca làm mới mẻ hơn khi đồng hóa Sophia với biểu tượng trung tâm này về ý muốn và sự hướng dẫn Thiên Chúa cho con người, đó là Tôra của Ítraen:

“Tất cả những điều ấy đều có trong sách Giao ước của Thiên Chúa Tối Cao, trong Lề Luật ông Môsê đã truyền, để các cộng đồng Giacóp nhận làm gia nghiệp” (Hc 24,23; x. Br 4,1-4).

Sự đồng hóa này xem ra như là một phúc lành kết hợp: Một đàng, nó mở rộng sự ảnh hưởng của Sophia vào trong địa hạt thánh thiêng nhất của tương quan Ítraen với Thiên Chúa; đàng khác, sự đồng hóa này cũng có thể được nhìn để rút ngắn Sophia bằng cách giới hạn Khôn Ngoan vào “những giới hạn có thể nắm bắt được của một cuốn sách.”[3]

Trong bài thơ cuối cùng (Hc 51,1-27), tác giả Huấn Ca (Ben Sirach) nói như một người đầy kinh nghiệm, đồng thời cũng đồng hóa mình với Đức Khôn Ngoan được quý chuộng, Đấng đã mang lại cho ông sự thỏa mãn thẳm sâu và sự an nhiên tự tại:

“Hỡi những người không được giáo huấn, hãy đến gần tôi và thụ huấn với tôi. Sao các bạn nói mình còn thiếu những điều ấy, và tâm hồn các bạn còn khao khát nhiều như vậy? Tôi đã mở miệng và lên tiếng: Hãy thu nhận những điều ấy, không phải trả đồng nào. Hãy tra cổ vào ách, và đón nhận giáo huấn vào tâm hồn; giáo huấn này, các bạn có thể tìm thấy ngay ở bên cạnh mình. Hãy đưa mắt mình; tôi đâu có vất vả bao nhiêu, và chính tôi đã được nghỉ ngơi an nhàn” (Hc 51,23-27).

Lời mời gọi này cho những người “không được giáo dục” và khát khao lẽ phải sẽ được vang vọng trong sự hiến mình của Chúa Giêsu cho những người nghèo hèn và đau khổ (Mt 11,28-30. Như là Đức Khôn Ngoan trong ngôi vị, Chúa Giêsu mời gọi những người nghe mình hãy mang lấy ách của Lời Chúa vào cổ họ hơn là để đó hoặc là bỏ mặc chúng dưới ách của lề luật.

Trước khi rời khỏi sách Huấn Ca, chúng ta có thể nhận định rằng cuốn sách này đã tiên báo về hai khía cạnh sứ vụ “cứu độ” của Chúa Con như là sự Khôn Ngoan Thần Linh. Một đàng, khi Đức Khôn Ngoan hiện diện cho “mỗi người và mỗi dân tộc” (Hc 24,6), nhờ sự chọn lựa của Thiên Chúa, Đức Khôn Ngoan cư ngụ trong Ítraen và tìm thấy nhà mình ở Giêrusalem (Hc 24,8-11). Một sự hiện diện phổ quát không ngăn cản việc Thiên Chúa chọn lựa một nơi đặc biệt để cho Khôn Ngoan cư ngụ. Mặt khác, sự chọn lựa đặc biệt như thế không có nghĩa là Khôn Ngoan không có mặt ở những nơi khác trên thế giới và nó không có giá trị cho toàn thể nhân loại.

Có lẽ được viết cách vắn gọn trước khi Chúa Giêsu sinh ra và trong bất cứ trường hợp nào, cuốn sách cuối cùng của Cựu Ước, sách Khôn Ngoan mang lại nhiều ích lợi cho chủ đề của chúng ta từ nửa phần đầu (Kn 1,1-11,1), phần này được chia ra hai phần khác. Phần thứ nhất (Kn 1,1-6,20) nói về sự trừng phạt vì điều lành và điều dữ và nói về sự bất tử mà Sophia có thể mang lại. Phần thứ hai mô tả Sophia và công việc của nó trong thế giới, đồng thời giải thích làm sao để tìm thấy Đức Khôn Ngoan (Kn 6,21-11,1). Mặc dầu được đồng hóa một cách mật thiết và đặc biệt với Thiên Chúa, Đức Khôn Ngoan làm cho mình được đón nhận:

“Ai từ sáng sớm đã tìm Đức Khôn Ngoan, thì không phải nhọc nhằn vất vả. Họ sẽ thấy Đức Khôn Ngoan ngồi ngay trước cửa nhà. Để tâm suy niệm về Đức Khôn Ngoan là đạt được sự minh mẫn toàn hảo. Ai vì Đức Khôn Ngoan mà thức khuya dậy sớm, sẽ mau trút được mọi lo âu. Vì những ai xứng đáng với Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan rảo quanh tìm kiếm. Trên các nẻo đường họ đi, Đức Khôn Ngoan niềm nở xuất hiện. Mỗi khi họ suy tưởng điều gì, Đức Khôn Ngoan đều đến với họ” (Kn 6,14-16).

Phần thứ hai đáng chúng ta chú ý. Nó mô tả Khôn Ngoan và vua Salomon gắn bó với nó như thế nào: Nổi tiếng là một người khôn ngoan cách tuyệt vời, vua tìm kiếm sự Khôn Ngoan và được chúc phúc nhờ Khôn Ngoan. Như là một người thợ thần linh làm việc trong mọi thụ tạo (Kn 8,6), Đức Khôn Ngoan dạy vua (Kn 7,22). Có 21 phẩm tính của Khôn Ngoan (x. đây là con số hoàn hảo từ số 7 x 3 = 21) diễn tả Sophia có thể dạy tất cả mọi thứ:

“Quả vậy, nơi Đức Khôn Ngoan, có một thần khí tinh tường và thánh thiện, duy nhất và đa năng, tinh tế và mau lẹ, minh mẫn và tinh tuyền, trong sáng và thản nhiên, lanh lợi và chuộng điều lành, bất khuất, từ bi và nhân ái, cương quyết, vững vàng và điềm tĩnh, làm được mọi sự và quan tâm đến mọi điều, thấu suốt mọi tâm can, kể cả tâm can của những người trong sạch, thông minh, tinh tế nhất. Vì chuyển động của Đức Khôn Ngoan thì mau lẹ hơn tất cả các chuyển động. Do tính thuần khiết, Đức Khôn Ngoan thâm nhập và xuyên thấu mọi vật mọi loài” (Kn 7,22-24).

Ở đây Sophia được đồng hóa với Thần Khí, một Thần Khí “thấm nhập vào mọi sự” và như thế tự tại ở khắp mọi nơi. Sự tự tại này được làm cho cân bằng nhờ tính siêu việt, bởi vì Sophia được phác họa với những đặc tính “thánh thiện, duy nhất, quyền năng và thấu suốt mọi sự.”

Trong một đoạn cổ điển, sách Khôn Ngoan trình bày tương quan của Sophia với Thiên Chúa:

“Đức Khôn Ngoan toả ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một tì ố. Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người. Dầu chỉ một mình, Đức Khôn Ngoan vẫn có thể làm được mọi sự; luôn luôn bất biến, Đức Khôn Ngoan đổi mới được muôn loài. Từ thế hệ này qua thế hệ khác, Đức Khôn Ngoan ngự vào những tâm hồn thánh thiện, biến họ nên bạn hữu của Thiên Chúa, nên ngôn sứ của Người. Thiên Chúa chỉ yêu chuộng những người chung sống với Đức Khôn Ngoan. Đức Khôn Ngoan rực rỡ hơn mặt trời, trổi vượt muôn tinh tú. So với Đức Khôn Ngoan, ánh sáng còn kém xa. Bởi trước màn đêm, ánh sáng đành phải lui bước. Còn Đức Khôn Ngoan, chẳng gian tà nào thắng nổi. Từ chân trời này, Đức Khôn Ngoan vươn mạnh tới chân trời kia, cai quản mọi loài thật tốt đẹp. Đức Khôn Ngoan, hiền thê lý tưởng” (Kn 7,25-8,1).

Chính xác từ sách Gióp, Sophia đã có liên hệ một cách sâu xa với Thiên Chúa. Bây giờ sự liên hệ của nó được diễn tả trong một cách thế mà nó vượt trên cả việc “sinh ra” (Cn 8,22) hoặc “đi ra từ miệng của Thiên Chúa” (Hc 24,3).

Như R. E. Murphy nói rằng trong một hình thức của việc tuôn đổ, chiếu tỏa hoặc sự phát ra từ thần tính, Đức Khôn Ngoan nổi lên như một “sự phản chiếu” hoặc như “bức ảnh trong gương” về Thiên Chúa.[4] Ngôn ngữ đặc biệt cũng được dùng để nói về công việc của Khôn Ngoan trong tạo dựng, quan phòng thế giới. Sau khi gọi Sophia là “mẹ và là người trình bày” của mọi sự (Kn 7,22), tác giả sách Khôn Ngoan bây giờ ca ngợi vai trò của nó trong việc làm mới lại và làm cho mọi thứ trật tự (Kn 7,27; 8,1) – điều này để nói rằng Khôn Ngoan có vai trò định hình và hướng dẫn công trình tạo thành. Tóm lại, Khôn Ngoan không chỉ “sống với Thiên Chúa” nhưng còn liên lỉ cộng tác với mọi công trình của Thiên Chúa (Kn 8,4).

Chủ đề về hiệp nhất giữa Sophia và Thiên Chúa mang lại một ý nghĩa cao điểm trong chương 10 khi trình bày những vai trò cứu độ của nó. Sau khi chương 9 đã nói rằng con người được “cứu độ” nhờ Sophia (Kn 9,18), tác giả Kinh Thánh tái giải thích lịch sử Ítraen bằng việc gán cho Sophia những hành động cứu độ mà thông thường là gán cho YHWH. Đó là Sophia đã hành động để che chở Adam, Nôê, Ápraham, Lót, Giacóp và Giuse. Đó là Sophia mà qua Môsê đã giải phóng dân Do Thái trong cuộc xuất hành:

“Đức Khôn Ngoan đã giải thoát dân thánh, đã giải thoát dòng giống vẹn toàn, khỏi một dân bách hại. Đức Khôn Ngoan nhập vào hồn tôi trung Đức Chúa, dùng điềm thiêng dấu lạ chống bạo quyền. Đức Khôn Ngoan trả công cho dân thánh đã từng chịu gian khó, dẫn họ trên những nẻo đường kỳ diệu, thành bóng mát che họ ban ngày, thành ánh sáng soi họ ban đêm, đưa họ qua Biển Đỏ, dẫn họ qua làn nước mênh mông” (Kn 10,15-18).

Nhờ việc gán cho Sophia những hành động cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử Cựu Ước, sách Khôn Ngoan đồng hóa giữa Sophia và YHWH một cách mật thiết hơn bao giờ hết.

Tân Ước sẽ dành cho Chúa Giêsu danh hiệu là Đấng Khôn Ngoan (1 Cr 1,24). Nó cũng có nhiều điều để nói về con người của Chúa Giêsu có liên quan giống như Bà Chúa Khôn Ngoan trong tạo thành và gìn giữ thế giới (x. 1 Cr 8,6; Cl 1,16-17; Hr 1,1-2).

Những Kitô hữu tiên khởi đã nhận biết rằng Chúa Giêsu đã mang cho chúng cuộc tạo dựng mới của đời sống ân sủng nhờ cái chết và phục sinh, là đỉnh cao của lịch sử cứu độ, hay hoạt động cứu độ của Thiên Chúa cho thế giới. Như là tác nhân của cuộc tạo dựng mới này, Chúa Giêsu cũng phải là tác nhân thần linh đối với công trình tạo dựng nguyên thủy của mọi sự. Giống như tác nhân chính của lịch sử cứu độ, Người cũng được nhìn như là Đấng hoạt động trong việc tạo dựng thế giới và lịch sử này trước khi nhập thể (x. Ga 12,41; 1 Cr 10,4). Được thúc đẩy cách đặc biệt từ cách dùng của Tin Mừng Thứ Tư về Logos ở lời mở đầu, các tác giả Kitô giáo sưu tập thành chủ đề hoạt động của Đức Kitô trước khi nhập thể, vừa trong sáng tạo và trong lịch sử cứu độ, bằng những hạn từ Logos, hoặc Lời Thiên Chúa, hơn là những hạn từ về Khôn Ngoan. Thánh Giustinô và Irênêô và các giáo phụ khác làm sáng tỏ sự hiện diện tiền hữu của Logos và hoạt động nhân danh dân được chọn. Họ giải thích “Logophanies – Lời tỏ hiện” trong toàn bộ Cựu Ước là những cuộc thần hiện (theophanies) hoặc là những cuộc hiện ra của Thiên Chúa.

Trước khi rời sách Khôn Ngoan, chúng ta phải nhớ rằng cuốn sách chia sẻ một ý nghĩa mạnh mẽ về tính siêu việt vô hình của Thiên Chúa với những tác giả Kitô giáo thuộc thế kỷ thứ hai và một tác giả Do Thái thuộc thế kỷ thứ nhất, đó là Philo thành Alexandria. Hoạt động của Bà Chúa Khôn Ngoan (sách Khôn Ngoan) hay một cách tương tự, hoạt động của Logos (Philo, Giustinô và Irênêô) nhằm bảo vệ tính siêu việt này. Thiên chúa hoàn toàn vượt trên thế giới chúng ta. Công trình tạo thành và quan phòng mọi sự cũng như hoạt động thần linh trong lịch sử cứu độ phải xảy ra nhờ tác động của Khôn Ngoan hoặc Logos. Bây giờ chúng ta quay sang tìm hiểu Lời như một sự nhân cách hóa nổi bật của hoạt động thần linh.

2. Lời - Logos

Giống như Bà Chúa Khôn Ngoan, Lời ở với Thiên Chúa và có sức sáng tạo cách mạnh mẽ ngay từ nguyên thủy (St 1,1-2,4). Cần trích dẫn một đoạn kinh điển từ sách Đệ Nhị Isaia:

“Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn,thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó” (Is 55,10-11).

Thánh Vịnh ca ngợi Lời sáng tạo và quan phòng của Thiên Chúa:

“Cả địa cầu phải kính sợ CHÚA, mọi thế nhân hãy khiếp oai Người. Vì Người đã phán, và muôn loài xuất hiện, Người ra lệnh truyền, tất cả được dựng nên” (Tv 33,8-9; x. Tv 148,5).

Huấn Ca cũng đánh giá Lời thần linh hoạt động như thế nào để gìn giữ công trình tạo thành: nhờ “Lời (của Thiên Chúa) giữ cho mọi sự với nhau” (Hc 43,26), một tình cảm sẽ được áp dụng cho Đức Kitô trong thư gửi tín hữu Côlôsê 1,17.

Đồng thời, Cựu Ước đặt Lời trong sự song đối với Thần Khí hoặc Hơi Thở như là những phương tiện của tạo thành:

“Một lời CHÚA phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33,6).

“Muôn loài Ngài dựng lên phải phụng thờ Ngài, vì Ngài đã phán, chúng liền xuất hiện, Ngài gửi sinh khí tới, chúng được tác thành” (Gđt 16,14).

Lời cầu nguyện nổi tiếng của Salomon dùng lời Khôn Ngoan như là những tác nhân đồng nghĩa của việc tạo thành thần linh: “Đức Khôn Ngoan đã xây cất nhà mình, dựng lên bảy cây cột, hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn” (Cn 9,1-2). Lời cũng nhân cách hóa hoạt động thần linh trong lịch sử của việc giải phóng dân được chọn thoát khỏi Ai Cập, ít nhất là khi các con đầu lòng của người Ai Cập chết. Trong một sự nhân cách hóa rất sống động về Lời, sách Khôn Ngoan tuyên bố:

“Khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng, lúc đêm trường chừng như điểm canh ba, thì từ trời cao thẳm, lời toàn năng của Ngài đã rời bỏ ngôi báu, ví tựa người chiến sĩ can trường xông vào giữa miền đất bị tru diệt, mang theo bản án không thể huỷ của Ngài như lưỡi gươm sắc bén. Nó đứng và làm cho vũ trụ đầy chết chóc, đầu đụng trời chân đạp đất” (Kn 18,14-16).

Lời cũng thường xuyên diễn tả tương quan lịch sử và cứu độ của Thiên Chúa gián tiếp trong một cách thế đặc biệt nhờ các tiên tri Cựu Ước. Lời của Thiên Chúa đến với họ; từ đó họ có thể thông truyền những sấm ngôn thần linh và tuyên bố: “Đức Chúa nói như vậy.” Các tiên tri truyền những lời thần linh về sự phán xét trên dân cùng với những chỉ dẫn về ý muốn của Thiên Chúa cho họ. Tóm lại, Lời sánh với Khôn Ngoan như mà một cách thế diễn tả hoạt động sáng tạo, hướng dẫn và cứu độ của Thiên Chúa.

3. Thần Khí - Ruah

Thần Khí xuất hiện nhiều lần trong Cựu Ước (khoảng gần 400 lần) như là cách thức thứ ba để nói về hoạt động sáng tạo, quan phòng và cứu chuộc của Thiên Chúa. Khi đề cập về Thần Khí của Đức Chúa (tiếng Do Thái Ruah; tiếng Hy Lạp Pneuma), Cựu Ước làm sáng tỏ sức mạnh của nó như là gió, như là hơi thở, hay nguyên lý của sự sống, hoặc như là sự linh ứng thần linh xuống trên các tiên tri. Khi tạo thành “Thần Khí” của Đức Chúa bay là là trên mặt nước (St 1,2). Một cách rất ý nghĩa, Thần Khí chiếm hữu các tiên tri, ở trong họ và sai họ đi nói lời Thiên Chúa. Điều này thật ý nghĩa bởi vì nó cho thấy trước rằng trong Do Thái Giáo, Lời, Khôn Ngoan và Thần Khí được dùng như là những cách thế cụ thể và tương tự để nói về sự bày tỏ và hoạt động đầy quyền năng của Thiên Chúa trong thế giới này. Khi ca ngợi quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa, Thánh Vịnh sử dụng Lời Hơi Thở (hoặc thần khí) như là những song đối ngang nhau: “Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33,6; x. Tv 147,18). Công trình tạo thành có thể được diễn tả trong từ ngữ là Lời và Thần Khí của Thiên Chúa, như lời tạ ơn Thiên Chúa mà sách Giuđitha minh họa:

“Muôn loài Ngài dựng lên phải phụng thờ Ngài, vì Ngài đã phán, chúng liền xuất hiện, Ngài gửi sinh khí tới, chúng được tác thành. Tiếng Ngài phán ra, nào ai chống nổi!” (Gđt 16,14; x. Tv 104,29-30).

Thần Khí và Khôn Ngoan được đồng hóa giống nhau: Khi Thiên Chúa ban khôn ngoan, điều này có nghĩa là người sai “Thần Khí thánh” của Người cho con người (Kn 9,17; x. 1,4-5; 7,7.22.25). Một số tác giả Kinh Thánh trong Cựu Ước liên kết và đồng hóa Thần Khí với Khôn Ngoan (Đnl 34,9; G 32,8-9; Is 11,2). Tóm lại, giống như Lời và Khôn Ngoan, Thần Khí cũng là một cách thế để diễn tả hoạt động và mạc khải của Thiên Chúa trong thế giới.

III. KẾT LUẬN

Trong Tân Ước và hậu Tân Ước, ngôn ngữ Kitô giáo dùng để nói về Thiên Chúa Ba Ngôi đến từ Kinh Thánh Do Thái. Ngôn ngữ này được thay đổi một cách sâu xa nhờ ánh sáng của cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu – cùng với việc đổ tràn đầy Thánh Thần. Tuy nhiên, việc gọi Thiên Chúa là Cha, Con (Lời hoặc Khôn Ngoan) và Thánh Thần đã có nguồn gốc của nó trong Cựu Ước.

Khôn Ngoan, Lời và Thần Khí nắm giữ vai trò giống nhau là giúp cho con người nhận biết rằng Thiên Chúa siêu việt nhưng rất gần gũi với thế giới và dân được chọn. Tuy nhiên, sự gần gũi này không làm tổn thương đến sự siêu việt thần linh, cũng không có nghĩa là đặt Thiên Chúa “lên trên” mọi hữu thể khác. Khi tham dự vào công trình sáng tạo, quan phòng và cứu độ, Khôn Ngoan và Thần Khí nắm giữ những vai trò thần linh và luôn ở trong sự điều khiển của Thiên Chúa. Đôi khi, hầu như được đồng hóa với Thiên Chúa (x. Kn 7,25-26), chúng lại phân biệt nhau trong vai trò của mình (Kn 9,4). Những ý tưởng này sẽ giúp cho các môn đệ của Chúa Giêsu khi họ cố gắng trình bày sứ mạng “cứu độ” trong lịch sử cứu độ của Chúa Con (như là Khôn Ngoan và Lời) và của Chúa Thánh Thần, cũng như vai trò không thể tách biệt của Logos và Thần Khí trong việc sáng tạo, gìn giữ toàn thể vũ trụ.

Như vậy, những ý niệm này mở ra khả năng để nhận biết công trình tổng quát của Chúa Con (được gọi là Khôn Ngoan) vừa “đối với toàn thể địa cầu,” vừa “đối với mọi người và mọi dân tộc” (x. Hc 24,6), và cho tất cả những ai được kêu gọi bước vào lịch sử của ơn cứu độ (x. Hc 24,8-11; Kn 10,15-18). Lời thần linh hoạt động cả trong trật tự chung của tạo thành và cả trong trật tự riêng của cứu độ. Lời của Đấng tạo thành mọi sự và mọi người (Gđt 16,14; Kn 9,1-2), Người hoạt động chống lại con đầu lòng của người Ai Cập (x. Kn 18,15-16), và phán bảo qua các tiên tri cho dân được Thiên Chúa tuyển chọn. Cũng vậy, Thần Khí Thiên Chúa không chỉ chiếm lấy các tiên tri của Cựu Ước mà còn thúc đẩy những con người không thuộc dân Ítraen, như ông Balaam, thốt ra những sấm ngôn quan trọng (Ds 24,2; x. Ds 22,1-24,25). Trong những cách thức như thế, Cựu Ước cung cấp những đường nét để phân biệt và liên kết với nhau giữa vai trò của Chúa Con (Khôn Ngoan, Lời) và Thánh Thần cả trong lịch sử cứu độ chung và riêng. Cựu Ước trình bày cách phong phú những ý tưởng về vai trò sáng tạo, quan phòng và cứu độ của Lời, Khôn Ngoan và Thần Khí đối với lịch sử của Dân Chúa và đi ra ngoài, vào trong lịch sử của mọi người và toàn thể trật tự tạo thành.

Trích đoạn cuối đề cập Lời, Khôn Ngoan và Thần Khí như là những sự nhân cách hóa một cách tương tự về hoạt động của Thiên Chúa. Ở đây, chúng ta gợi lên hai ưu thế của Khôn Ngoan. Trước hết, Khôn Ngoan có một khôn mặt phân biệt rõ ràng hơn so với Lời và Thần Khí; một cách riêng biệt, Khôn Ngoan dấn thân vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa (Hc 24,8). Thứ đến, nhờ Thần Khí và Lời ảnh hưởng đến dòng chảy lịch sử cứu độ (x. nhờ việc sai đi và loan báo qua các tiên tri), Kinh Thánh gán cho một mình Khôn Ngoan một vai trò tổng quát của những hành vi cứu độ mà một cách bình thường được gán cho YHWH trong việc giải phóng dân khỏi sự nô lệ ở Ai Cập (x. Kn 10,15-18). Tuy nhiên, đoạn này không nên bỏ qua một ưu thế của Thần Khí, khi được so sánh với Khôn Ngoan và Lời: chúng chưa được nhìn nhận là quà tặng thần linh trong ngày cánh chung. Nhờ tiên tri Gioel, Thiên Chúa hứa đổ “Thần Khí Người” hơn là đổ “Khôn Ngoan Người” hay “Lời Người” (Ge 2,28-29; x. Cv 2,17-18; Ed 11,19; 39,29).

Nét đặc trưng giá trị nhất của Khôn Ngoan, Lời và Thần Khí là sự diễn tả về hoạt động của Thiên Chúa đối với loài người và với toàn thể thế giới. Nó thể hiện qua những thực tại của chúng không phải bằng những nguyên lý trừu tượng nhưng bằng những sự nhân cách hóa sống động. Đặc biệt là nó có gì đó rất cụ thể trong trường hợp của Khôn Ngoan. Khôn Ngoan mời gọi mọi người lắng nghe sứ điệp của nó và đi theo nó. Như thế, đây là cách thức chuẩn bị mảnh đất tốt cho việc Chúa Giêsu đến một cách hữu hình và Thánh Thần của Người được sai đến. Không ai có thể đánh giá hay hơn điều mà Gerhard von Rad viết:

“Khôn Ngoan là một hình dạng mà trong đó ý muốn của YHWH và sự đồng hành của Người (ơn cứu độ của Người) đến được với con người. Khôn Ngoan là cốt lõi của điều mà người nam và người nữ cần cho cuộc sống mình và cốt lõi của điều mà Thiên Chúa muốn ban cho họ. Dầu vậy, điều quan trọng nhất là Khôn Ngoan không hướng về con người theo một hình thức của một “điều gì đó” (it), như giáo huấn, sự hướng dẫn, ơn cứu độ hoặc sự vui thích, nhưng là một ngôi vị, một hình thức của “Tôi” (I). Vì thế, Khôn Ngoan thực sự là hình thức mà trong đó YHWH làm cho mình hiện diện và Người mong muốn được con người tìm kiếm. “Vi gặp được Ta là gặp sự sống, và hưởng ân lộc Đức Chúa ban cho” (Cn 8,35). Chỉ có YHWH mới có thể nói theo cách thức như thế.”[5]

Ông cũng thêm rằng: Chỉ có Chúa Giêsu được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần mới có thể nói trong cách thức này. Những sự nhân cách hóa sống động của Khôn Ngoan, Lời và Thần Khí mở ra con đường hướng tới việc nhận biết Thiên Chúa là Ba Ngôi. Bởi vì, chúng vừa được đồng hóa với Thiên Chúa và hoạt động của Người, vừa phân biệt với Thiên Chúa.

Bước nhảy từ những nhân cách hóa đến các ngôi vị phân biệt nhau chắc chắn là một bước nhảy lớn lao. Tuy nhiên, nếu không có những nhân cách hóa này của Cựu Ước (và ngôn ngữ Cha/Con áp dụng cho Thiên Chúa), việc nhận biết Ba Ngôi không được rõ ràng và nhờ sự quan phòng, chúng báo trước và chuẩn bị cho mạc khải mới mẻ của Chúa Giêsu trong Tân Ước.

 


[1] Cf. C. V. Camp, Wisdom and the Feminine in the Book of Proverbs, Almond Press, Sheffield 1987.

[2] Cf. P. W. Skehan and A. A. Di Lella, The Wisdom of Ben Sira, Anchor Bible 39, Doubleday, New York 1987).

[3] Cf. M. Scott, Sophia and the Johannine Jesus, 54.

[4] R. E. Murphy, The Tree of Life, 144.

[5] G. von Rad (D. M. G. Stalker trans.), Old Testament Theology, vol. 1, Oliver & Boyd, London 1962, 444.

Lm. Phêrô Nguyễn văn Hương

Nguồn tin: