Giáo Hội Như Người Anh Cả Với Sứ Mạng Truyền Giáo-Một Lối Tiếp Cận Dưới Lăng Kính Văn Hóa Á Đông

Fri,04/10/2019
Lượt xem: 45

 Nhập đề

Khởi đầu sắc lệnh Ad Gentes, các nghị phụ Công đồng Vaticanô II cùng nhau khẳng tín rằng: “Được Thiên Chúa sai đến muôn dân để nên ‘bí tích cứu độ phổ quát’, Giáo Hội, vì những đòi hỏi căn bản của Công Giáo tính và vì mệnh lệnh của Đấng Sáng Lập, nhất quyết loan báo Phúc Âm cho hết mọi người.”[1] Quả thật, truyền giáo không chỉ là sứ mạng nhưng còn là căn tính của Giáo Hội. Đã là căn tính thì gắn liền với sự tồn tại. Cũng giống như “nắng nếu không còn ấm, có còn là nắng nữa không? Rừng nếu không còn lá, có còn là rừng được chăng? […] Tôi nếu chẳng còn yêu, có còn là người được chăng?”,[2] Giáo Hội nếu không truyền giáo, có còn là Giáo Hội của Chúa Kitô nữa không? “Thực vậy, trong lịch sử Giáo Hội, nếu tính năng động truyền giáo là dấu hiệu của sức sống, thì sự xao lãng lại là dấu hiệu của cơn khủng hoảng đức tin.”[3]

Từ những ngày trong ‘trứng nước’, Giáo Hội qua các Tông Đồ, các Kitô hữu tiên khởi đã dạn dĩ rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô Phục Sinh. Và đặc biệt, hơn lúc nào hết, sứ mệnh truyền giáo được Giáo Hội thao thức và khắc khoải trong thời đại hôm nay. Tin Mừng Chúa Kitô đã đến với nhân loại hơn hai ngàn năm, song số người chưa được đón nhận Tin Mừng trên thế giới vẫn còn rất nhiều. Thế giới, theo thống kê năm 2017 có 8 tỷ người, nhưng Kitô Giáo chỉ có 2,4 tỷ người (chiếm 25%), trong đó gồm nhiều nhánh khác nhau như Công Giáo, Chính Thống, Tin Lành, Anh Giáo…Như vậy, xem ra viễn cảnh ‘thiên hạ đồng quy,’ toàn nhân loại cùng gọi Thiên Chúa là Cha; tin nhận Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc và Chúa Thánh Thần hãy còn xa vời. Tương lai tiền đồ ấy xem ra còn diệu vợi.

Năm thứ sáu sau ngày đắc cử giáo hoàng, Đức Thánh Cha Phanxicô vẫn không ngừng lưu tâm nhấn mạnh đến các chương trình, hoạt động nhằm đẩy mạnh công cuộc truyền giáo. Nhiều hội nghị, chuyên đề, các Thượng Hội Đồng Giám Mục, các tông huấn, thông điệp trong triều giáo hoàng của ngài nhiều lần hướng đến việc truyền giáo, với những tên gọi như: tái Phúc Âm hóa, tân Phúc Âm hóa, niềm vui Tin Mừng…Tất cả nói lên nỗ lực không ngừng nghỉ của vị giáo hoàng đương nhiệm nói riêng và của toàn thể Giáo Hội nói chung đối với hoạt động truyền giáo.

Truyền giáo là gì?

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền giáo, tùy thuộc vào nhãn quan tiếp cận hay mục đích hướng đến của mỗi tác giả, mỗi lập trường.

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “truyền giáo là truyền bá tôn giáo (thường nói về đạo Cơ đốc)”.[4] Định nghĩa như vậy hoàn toàn có thể tiếp nhận. Nhưng thật ra, khi truy tầm lại nguyên gốc tiếng La-tinh, chúng ta có thể thấy rằng dịch như vậy là chưa chính xác. Từ ‘truyền giáo’ dịch bởi tiếng La-tinh ‘missio’.

Trong tiếng La-tinh, ‘missio’ là một danh từ gốc bởi động từ ‘mittere’ có nghĩa là: gửi (thí dụ gửi một lá thư), cử đi, phái đi làm một công tác nào đó. Tân Ước đã sử dụng hạn từ này theo một nghĩa rất đặc biệt để nói đến sứ mạng của Đức Kitô và của Hội Thánh.

Trong tiếng Pháp và tiếng Anh phiên âm ‘missio’ thành ‘mission’. Từ điển Anh Việt do Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia, Viện Ngôn Ngữ Học xuất bản tại Hà nội 1975, định nghĩa hạn từ ‘mission’ với 3 nghĩa chính sau đây: 

- Công việc của một nhóm người được phái ra nước ngoài, nhất là để làm công việc chính trị thương mại: phái đoàn, sứ mệnh, nhiệm vụ.

- Công việc của một nhóm giáo sĩ được phái đi để cải giáo dân chúng.

- Nhiệm vụ hoặc sứ mạng đặc biệt của một cá nhân hoặc một nhóm phải tiến hành. 

Như vậy, thuật ngữ ‘missio’ hay ‘mission’ không phải lúc nào cũng dùng để chỉ việc truyền giáo. Đó là xét về mặt dịch thuật từ ngữ, còn trong thần học Công Giáo, truyền giáo được hiểu như thế nào?

Trước công đồng Vaticanô II, vào khoảng thập niên 50, cuộc tranh luận chính yếu trong thần học Công Giáo diễn ra giữa hai trường phái Muenster (Đức) và Louvain (Bỉ) về mục tiêu của công cuộc truyền giáo: việc truyền giáo nhằm kêu gọi lương dân trở lại (conversio), hay là thiết lập Giáo Hội tại địa phương (plantatio ecclesiae)?[5]

Công đồng Vaticanô II, trong sắc lệnh về hoạt động truyền giáo (Ad Gentes) số 6 đã kết hợp cả hai mục tiêu trên, theo đó: công cuộc truyền giáo không chỉ giới hạn vào việc kêu gọi lương dân tin nhận Phúc Âm và lãnh nhận bí tích rửa tội, nhưng còn phải tiến tới việc phát triển các Giáo Hội địa phương nữa.[6]

Nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày bế mạc Công đồng Vaticanô II, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã ban hành thông điệp “Redemptoris Missio”- Sứ mạng của Đấng Cứu Thế, nhằm thức gợi sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội trong thời đại hôm nay. Trong văn kiện này, ở số 33, Đức Gioan Phaolô II đã phân biệt ba hình thức truyền giáo:[7] 

a) “Missio ad gentes”, mà ta có thể dịch là truyền giáo, dành cho những ai chưa phải là Kitô hữu; 

b) Hoạt động mục vụ, dành cho những người đã theo đạo; 

c) Tái rao giảng Tin Mừng, hướng tới những người đã theo đạo nhưng không còn tin hay giữ đạo nữa.

Đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, dường như khi định nghĩa về truyền giáo, ngài ít lưu tâm đến vấn đề học thuật, thần học cho bằng diễn tả sứ vụ này theo một cách bình dị và dễ đón nhận nhất với tất cả những khả thể và chiều kích của nó. Trong tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm vui của Tin Mừng), Đức Phanxicô phác họa hình ảnh Giáo Hội ‘ra đi truyền giáo’ là một cộng đoàn các môn đệ truyền giáo đi bước trước, dấn thân và nâng đỡ, diễn tả và trao ban niềm vui gặp gỡ Đấng Phục Sinh, từ đó trổ sinh hoa trái của Lòng Thương Xót Thiên Chúa.[8] Bởi vậy, trong tư tưởng của Đức Phanxicô, vấn đề nguồn cội và cốt lõi nhất của sứ vụ truyền giáo không phải là việc gia tăng số thành viên cho Giáo Hội hay bành trướng một cơ chế hữu hình nhưng là đem ‘niềm vui Tin Mừng’ của Chúa Kitô Phục Sinh đến được với nhiều người, nhất là những ai chưa được đón nhận niềm vui ấy.

Như thế, cách chung nhất, chúng ta có thể nói truyền giáo là mang Chúa Kitô đến cho người khác, là thực hiện lệnh truyền của Chúa Giêsu:

 “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19); “là công việc làm cho Lời Chúa được lan rộng và sáng tỏ, Nước Chúa được công bố và thiết lập khắp trần gian.”[9]

Tự bản chất, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo vì chính Giáo Hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, theo ý định của Thiên Chúa Cha. Cho nên cũng có thể nói rằng: “Hoạt động truyền giáo không gì khác hơn, cũng không gì kém hơn là biểu lộ hoặc bày tỏ ý định của Thiên Chúa, cùng hoàn tất ý định ấy nơi dương thế, ở trong lịch sử thế trần.”[10] Giáo Hội không quên sứ mạng, căn tính của mình. Giáo Hội đang nỗ lực từng ngày để mang Tin Mừng Chúa đến cho lương dân, những người chưa nhận biết Chúa Kitô và giáo lý của Người.

Tuy nhiên, thực trạng thế giới hôm nay đặt nhân loại trong những cảnh huống mới, vì thế, Giáo Hội là muối đất và ánh sáng thế gian càng được kêu mời khẩn thiết hơn để cứu rỗi và canh tân mọi loài, thâu họp muôn người thành một gia đình và một đàn chiên duy nhất (cf. Ga 10,16).

Dù đã có nhiều nỗ lực hoạt động truyền giáo nhưng nhìn chung chúng ta phải thừa nhận rằng kết quả truyền giáo còn quá khiêm tốn. Hai mươi thế kỷ sau ‘biến cố Phục sinh,’ sứ mạng Đấng Sáng Lập giao phó cho các Tông Đồ chưa viên mãn. Lệnh truyền của Chúa đã có kết quả song thiếu sự đồng đều, đặc biệt, tại môi trường Á Đông việc truyền giáo cho người lương dân còn nhiều hạn chế. Mảnh đất này vẫn là một thửa ruộng màu mỡ cho các nhà thừa sai và sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội.

Một trong những nguyên nhân dẫn tới hiện trạng trên đó là việc chúng ta, những người Công Giáo đã thiếu ý thức bổn phận, sứ mạng, căn tính truyền giáo của mình. Dường như trong tâm thức của nhiều người, truyền giáo là việc của ai chứ không phải của mình. Truyền giáo là sứ mạng của các nhà thừa sai Tây Phương, chứ không phải là sứ mạng của chính người Công Giáo Á Đông.

Vấn đề được khai triển trong những dòng suy tư dưới đây là cố gắng đi tìm câu trả lời cho truy vấn: tại sao Giáo Hội, dưới lăng kính văn hóa Á Đông, phải có bổn phận truyền giáo? Đâu là nền tảng của sứ mạng truyền giáo cho Giáo Hội giữa lòng văn hóa Á Đông?

Với ý hướng đó, bài viết sẽ trình bày ‘Giáo Hội như người anh cả với sứ mạng truyền giáo’ nhằm tiếp cận một mô hình Giáo Hội mới phù hợp nhãn quan văn hóa Á Đông, qua đó ý thức hơn sứ mạng truyền giáo của mỗi người Kitô hữu.

1. Hình ảnh người anh cả trong văn hóa gia đình Á Đông

Điều được đăng nhập và khai triển ở đây là một trong những nét văn hóa của truyền thống gia đình Á Đông. Đối với văn hóa Tây Phương, hình ảnh người anh cả xem ra không thực sự quan trọng và có ý nghĩa nhiều. Trong khi đó, đối với văn hóa Á Đông như Việt Nam, Trung Hoa…người anh cả có vị trí, vai trò, và tầm ảnh hưởng hết sức quan trọng trong gia đình.[11]

Trong văn hóa Á Đông, đặc biệt là ở Việt Nam, tình gia đình, nghĩa anh em luôn được coi trọng. Anh em cốt lấy tinh thần tương thân tương ái làm đầu, lá lành đùm lá rách, bênh vực giúp đỡ nhau. Kho tàng văn học dân gian Việt Nam còn lưu lại nhiều câu tục ngữ ca dao hay và sâu sắc về tình anh chị em trong gia đình: “khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, “anh em như thể tay chân”, hay “chị ngã em nâng”, “máu chảy ruột mềm”…Giữa anh chị em với nhau trong gia đình, người anh cả hay người con trưởng là người anh lớn nhất của các em trai và em gái cùng cha mẹ.[12]

Theo truyền thống, người anh cả có quyền và có bổn phận nhiều hơn cả các người em trong gia đình. Khi cha mẹ mất, người anh cả phải trèo lên mái nhà, tay cầm chiếc áo của người quá cố mà la lên, thông báo cho mọi người. Người con trai cả cũng phải đảm trách hay chịu phần nặng trong việc ma chay, giỗ tết, hay cúng tế cha mẹ và tổ tiên khi các ngài qua đời.[13]

Khi cha mẹ mất rồi thì người anh cả là người thay mặt cho cha mẹ mà trông nom, dạy dỗ các em. Em còn thơ bé thì anh phải nuôi nấng, rồi khi chúng lớn lên phải lo dựng vợ gả chồng cho các em nữa. Văn hóa Á Đông gọi đó là “quyền huynh thế phụ.” Gia sản cha mẹ để lại, người anh cả được quyền thừa kế phần hơn, dù có khi con út cũng được cha mẹ để cho phần gia tài lợi hơn, nhất là khi các anh chị trước đã yên bề gia thất, “giàu con út, khó con út, trút sạch cửa nhà.”[14]

Như thế, trong văn hóa gia đình truyền thống Á Đông, người anh cả có vai trò và vị trí rất quan trọng. Hình ảnh người anh cả cách nào đó là hình ảnh của Giáo Hội Chúa Kitô hôm nay, đặc biệt trong môi trường văn hóa tôn giáo tại Á Đông.

2. Giáo Hội như người anh cả dưới lăng kính văn hóa Á Đông

2.1. Căn tính và đời sống

Căn tính ‘Giáo Hội như người anh cả’ được tiếp cận trước hết trên nền tảng hữu thể học. Muôn loài trên trời dưới đất, hữu hình và vô hình đều do Thiên Chúa dựng nên. Đức Kitô là con đầu lòng của Thiên Chúa như lời Thánh Phaolô xác quyết: “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo” (Cl 1,15-16).  Trong thân thể mầu nhiệm Đức Kitô, Ngài là Đầu, và Giáo Hội là chi thể (cf. Cl 1,18). Bởi vì, Giáo Hội không thể tách khỏi Đức Kitô, cũng như thân thể không thể tách khỏi đầu, cho nên, nếu Đức Kitô đã là Trưởng Tử thì Giáo Hội là chi thể trong thân thể duy nhất ấy (cf. Ep 4,16) cũng được thông phần vào chức vị của Người.

Xét trong bối cảnh văn hóa, tôn giáo ở Á Đông và Việt Nam, dưới chiều kích lịch sử xem ra Giáo Hội Chúa Kitô ‘sinh sau đẻ muộn.’ Tuy nhiên, đức tin Kitô Giáo khẳng quyết: Giáo Hội được cưu mang trong ý định từ thuở đời đời của Thiên Chúa. Không phải đến thời Tân Ước, thực thể Giáo Hội mới được thai nghén, nhưng từ trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã tiên báo về Giáo Hội qua các hình ảnh và được chuẩn bị kỳ diệu ngang qua lịch sử dân Israen. Các giáo phụ táo bạo hơn khi quan niệm rằng Giáo Hội có trước cuộc tạo dựng vì đã hiện hữu nơi Thiên Chúa ngay cả trước khi có tín hữu đầu tiên. Trưng dẫn Ep 1,4-5, Origiene đã mạnh dạn giải thích rằng:

“Không phải từ khi thế gian được tạo dựng, mà ngay cả trước khi tạo thành thế gian, Giáo Hội đã có, bởi vì Đức Kitô yêu thương Giáo Hội […] Làm sao Ngài có thể yêu thương Giáo Hội nếu Giáo Hội không hiện hữu? Vậy, nếu Ngài đã yêu thương Giáo Hội thì chính là vì Giáo Hội đã có.”[15]

Như thế, xét về mặt hữu thể cũng như về mặt ‘sử tính,’ chúng ta có lý do để tiếp cận mô hình Giáo Hội như là người anh cả.

Là người anh cả, Giáo Hội được chọn để nhận lời chúc phúc và thừa kế phần gia nghiệp là ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa ban qua và trong Đức Giêsu Kitô. Chính Đức Giêsu đã hứa: Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” (Mt 25,34). Thánh Phaolô khi khai triển quyền thừa tự của Giáo Hội đã xác tín rằng: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: "Ápba, Cha ơi! " Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4,4-7).

Được tuyển chọn và thánh hiến, Giáo Hội trở nên mô mẫu cho một đời sống thấm đẫm những giá trị Tin Mừng. Các tôn giáo khác, vì không được ‘sinh ra’ từ thập giá của Đức Kitô và không được nuôi dưỡng bằng các bí tích nên không thể là mô mẫu chân thực dẫn con người tới chân lý vẹn toàn là Thiên Chúa. Bởi thế, xét như là người anh cả, Giáo Hội kế thừa việc tuyên xưng Đức Kitô chịu chết và sống lại cho đến tận cùng bờ cõi trái đất (cf. Cv 1,8); và cho đến khi Người lại đến trong vinh quang (cf. 1Cr 11,2). Qua Lời Chúa và các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, Giáo Hội đón nhận nguồn sống dồi dào là ân sủng phát xuất từ Thiên Chúa. Người anh cả Giáo Hội có Đầu là Đức Kitô trở nên thánh thiện nhờ thông phần với Đức Kitô và phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa. Tuy nhiên, trên thân thể người anh cả Giáo Hội vẫn có những cơ phận bị thương tổn, đó là bởi Giáo Hội luôn cưu mang những người tội lỗi. Giáo Hội là người anh cả chưa hoàn hảo một khi còn lữ hành ở trần gian.[16]

2.2. Sứ mạng truyền giáo của người anh cả Giáo Hội

Giáo Hội là người anh cả, trước hết có sứ mạng hướng dẫn đàn em đông đúc trong gia đình nhân loại. Vì Giáo Hội là “sự sung mãn của Đức Kitô” (Ep 1,23), nên trong Giáo Hội, tiềm ẩn mọi “kho tàng khôn ngoan và hiểu biết về Thiên Chúa” (cf. Cl 2,3), điều mà các thực thể khác của phàm nhân không thể thủ đắc được. Sự khôn ngoan này được ban cho Giáo Hội để trong vai trò là anh cả, Giáo Hội đồng thời là thầy dạy cho muôn dân như lời Chúa Giêsu đã căn dặn: Anh em hãy đi dạy dỗ cho muôn dân (cf. Mc 16,15). Sứ mạng này cũng được thánh Phaolô nhấn mạnh: “hãy dạy dỗ mỗi người với tất cả sự khôn ngoan, để giúp mỗi người nên hoàn thiện trong Đức Kitô” (Cl 1,27-28). Cùng đích sự hướng dẫn của người anh cả Giáo Hội không gì khác hơn là dẫn dắt nhân loại, đặc biệt là những ai chưa nhận biết Thiên Chúa về với nguồn ơn cứu độ, như xưa, ông Anrê đã giới thiệu Chúa Giêsu cho em là Phêrô (cf. Ga 1,40-41). Đây chính là sứ mạng truyền giáo mà Giáo Hội đón nhận làm căn tính của mình. Bổn phận tiên vàn của người anh cả Giáo Hội là truyền giáo. Vì là anh cả, Giáo Hội không được phép thoái thác sứ mạng đem ánh sáng Tin Mừng của Chúa Kitô Phục Sinh đến cho những người em chưa được đón nhận trong gia đình nhân loại.

Là người anh cả, Giáo Hội đem Chúa Giêsu đến cho người khác ngang qua con đường phục vụ. Sự hiện diện của Giáo Hội giữa nhân loại là để phục vụ cho ơn cứu độ hoàn vũ của Thiên Chúa được Đức Giêsu Kitô thực hiện.[17] Trong gia đình tự nhiên, người anh cả phải giúp đỡ, phục vụ và quan tâm các nhu cầu của mọi người em không phân biệt trai gái. Cũng thế, Giáo Hội không ngừng quan tâm đến tất cả chiều kích của đời sống con người. Giáo Hội luôn được định hướng ra đi phục vụ để thăng tiến nhân loại cách toàn diện. Tinh thần phục vụ của người anh cả Giáo Hội phản chiếu tinh thần phục vụ của Đức Kitô. Dựa trên giáo huấn của Người, Giáo Hội hăng say phục vụ nhân loại để đem lại sự sống sung mãn cho tất cả mọi người (cf. Ga 1,4), không chỉ dành cho những ai thuộc dòng tộc Ápraham theo huyết thống, mà là tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.[18] Phục vụ là con đường Giáo Hội ngang qua trong công cuộc loan báo Tin Mừng.

Giáo Hội với tư cách là người anh cả phải là sợi dây liên kết, và kiến tạo mối hiệp thông giữa các phần tử khác trong gia đình nhân loại. Người anh cả Giáo Hội phải đặc biệt chú tâm đến những người em bị bỏ rơi bên lề xã hội, những người em nghèo đói cơm bánh và nhu cầu tâm linh, những nạn nhân của sự chà đạp nhân phẩm. Giáo Hội phải bảo vệ những người em;[19] phải lên tiếng trước những thảm trạng và bất công, những lạm dụng nảy sinh do những nhận thức phản diện về con người. Người anh cả Giáo Hội sống và hành xử với lòng thương xót, biết mang lấy những nỗi khắc khoải, những âm vang trong lương tâm của nhân loại.[20] Khi hành động như thế, Giáo Hội thực sự đem ơn cứu độ, đem Tin Mừng Đức Giêsu đến cho mọi người không chỉ bằng lời rao giảng nhưng bằng gương sáng yêu thương phục vụ.

Ngày hôm nay, việc đối thoại liên tôn, các phong trào đại kết được lưu tâm qua đó các tín đồ của các tôn giáo hiểu biết, tôn trọng nhau hơn. Tuy nhiên, là người Kitô hữu, chúng ta phải mạnh mẽ xác tín rằng: dưới gầm trời này không có một danh nào được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ ngoại trừ danh Đức Giêsu Kitô (cf. Cv 4,12). Việc đối thoại trong truyền giáo không đồng nghĩa với việc làm biến tướng, hay sai lệch nội dung đức tin đã được đón nhận từ Đấng Sáng Lập. Trong gia đình, mỗi khi biết mình đối diện cận kề với cái chết, người cha thường gọi người anh cả đến và lối lại những di chúc, di ngôn. Người anh cả phải có nhiệm vụ thông đạt lại nội dung của bản di ngôn đó cho mọi người em theo đúng ý của người cha, không được sai lệch hoặc thêm bớt gì theo ý riêng của mình. Cũng thế, Giáo Hội được Thiên Chúa cho thừa kế gia sản đức tin, và như người anh cả, Giáo Hội có sứ mạng bảo vệ gia sản đó trong gia đình nhân loại. Giáo Hội là kho tích chứa chân lý. Giáo Hội sở hữu trọn vẹn các phương tiện để đón nhận ơn cứu độ. Không một tôn giáo, hay một thực thể nào ngoài Giáo Hội Chúa Kitô được chính Thiên Chúa trao phó cách minh thị và trọn vẹn kho tàng đức tin, mặc dù không phủ nhận những giá trị, những ‘mầm Chân Lý’ có trong các tôn giáo hay các nền văn hóa khác.[21] Chỉ có người anh cả Giáo Hội được Đức Giêsu thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ mới được ân phúc đó. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong tông hiến Kho Tàng Đức Tin (Fidei depositum) đã khẳng định: “Kho tàng đức tin được Thiên Chúa trao ban cho Giáo Hội của Ngài gìn giữ và Giáo Hội vẫn không ngừng chu toàn nhiệm vụ đó.”

Việc cử hành các nghi lễ thờ phượng Thiên Chúa cũng là sứ vụ đặc biệt không thể thiếu trong công cuộc đem Tin Mừng của Chúa đến với lương dân. Trong mỗi gia đình, dòng họ tại Á Đông, người anh cả có nhiệm vụ coi sóc việc cúng tế, hương khói cho cha mẹ, ông bà khi các ngài đã qua đời. Giáo Hội cũng có bổn phận thay thế cho toàn thể nhân loại dâng lên Thiên Chúa là Cha hy tế thờ phượng, tạ ơn và cầu xin. Có nhiều cách thức để con cái nhân loại thờ phượng Thiên Chúa là Cha, nhưng thờ phượng qua phụng vụ trong Giáo Hội là cách thức xứng hợp và đẹp lòng Thiên Chúa nhất vì được thực hiện do nhiệm thể Chúa Kitô là Đầu và các chi thể của Người.[22] Giáo Hội qua hai ngàn năm nay luôn xác tín rằng: Thánh lễ là nguồn mạch và là chóp đỉnh của tất cả đời sống phụng vụ Kitô Giáo,[23] là hành vi thờ phượng cao cả nhất mà Thiên Chúa muốn nơi con người. Hành vi thờ phượng này chỉ có trong Giáo Hội Chúa Kitô. Chính bởi thế, như người anh cả trong gia đình nhân loại, Giáo Hội mỗi ngày thay cho đàn em đông đúc, dâng lên Thiên Chúa hy tế tạ ơn. Trong Đức Kitô là Đầu, Giáo Hội là trưởng nghi của hy tế phụng thờ.

3. Vài suy tư thay lời kết

‘Anh cả’ không phải là hạn từ mang tính tích cực và tốt đẹp nhiều trong những trang Kinh Thánh. Độc giả Kinh Thánh phần đa chỉ gặp thấy hình ảnh những người anh cả không có nhiều ý nghĩa, vị thế, và vai trò trong gia đình. Chẳng hạn, Cain là anh đã giết em mình là Abel (cf. St 4,1-16); Esau là anh đã bán chức trưởng nam cho em là Giacóp (cf. St 25,29-34); người anh cả ích kỷ trong dụ ngôn Người cha nhân hậu (cf. Lc 15,11-31)…Cho nên, ta thường ngần ngại quy chiếu hình ảnh Giáo Hội với người anh cả. Tuy nhiên, trong văn hóa gia đình Á Đông, hình ảnh người anh cả lại rất có ý nghĩa. Chính vì vậy, mặc dù còn nhiều hạn chế trong khi khai triển, song việc tiếp cận mô hình ‘Giáo Hội như người anh cả’ và trình bày sứ mạng truyền giáo của mình tại những nền văn hóa này phần nào đó giúp Giáo Hội ý thức và chu toàn bổn phận đem Tin Mừng của Chúa cho những anh chị em khác giữa gia đình nhân loại.

Đối diện với những tôn giáo khác, những thực thể xã hội khác ở Á Châu, quả là một sự liều lĩnh không hơn không kém khi ví ‘Giáo Hội như người anh cả.’ Song, cản ngại ấy không cản trở Giáo Hội lớn lên và thăng tiến để thực sự trở nên là người anh cả trong vai trò hướng dẫn nhân loại về với Thiên Chúa là Cha đích thực. Không phủ nhận những giá trị, những ‘hạt giống chân lý’ trong các tôn giáo khác, những nền văn hóa khác, nhưng con đường tiến về CHÂN LÝ cùng đích sẽ dễ dàng và sáng tỏ hơn nếu Giáo Hội là người anh cả đi tiên phong dẫn dắt nhân loại. Ánh sáng của Tin Mừng phục sinh phải được chiếu giải trên hành trình của nhân loại, và Giáo Hội phải là người anh cả trong tay cầm ngọn nến cháy sáng đó.

Chúa Giêsu mời gọi Giáo Hội hòa đồng giữa thế gian như là men, là muối, song Người cũng muốn Giáo Hội là người anh cả phải trổi vượt, phải là ánh sáng, là đèn đặt trên thùng để soi chiếu thế gian. Giáo Hội là anh cả phải nỗ lực dấn thân hơn nữa vì

 vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ.”[24]

Trong khi tiếp cận nền tảng sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội tại Á Đông, việc khai triển mô hình “Giáo Hội như người anh cả” chỉ mang tính tượng trưng và loại suy dựa trên những điểm tương đồng, cũng giống như một thời người ta gọi Giáo Hội Pháp là ‘trưởng nữ.’ Đây là một mô hình còn mới mẻ, dù có thể không hoàn toàn đồng thuận với xu hướng đối thoại đại kết nhưng có tính cấp thiết và ý nghĩa để thức gợi Giáo Hội tại Á Đông về sứ mạng truyền giáo. Đã đến lúc, Giáo Hội cần phải tiếp nhận mình dưới mô hình ấy để ý thức hơn căn tính truyền giáo của mình và từ đó chu toàn sứ mạng được Thiên Chúa giao phó. Triết gia Emmanuel Monier đã từng nói: “Nếu một hòn đá được đặt đúng vị trí trọng tâm, nó có thể làm chuyển hướng một dòng sông.” Giáo Hội cũng thế, nếu được đặt đúng vị trí của mình, Giáo Hội sẽ làm thay đổi gia đình nhân loại, để tất cả được nên một trên hành trình gặp gỡ Đấng Vĩnh Cửu là Cha tình yêu của mình. Con tim của người anh cả Giáo Hội sẽ không an nghỉ cho tới khi nhân loại được an nghỉ trong bình an của Đức Kitô phục sinh.[25]

GB. Lê Quốc Hưng, K.XIII
Trích từ Tập san Đức tin và Văn hóa, số 13

 

 

 

 


[1] Công Đồng Vaticanô II, (Phân khoa Thần học – Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X – Đà Lạt dịch), Sắc lệnh về Truyền Giáo (Ad Gentes), 18/11/1965, số 1.

[2] Bài hát “Tự hỏi” của nhạc sỹ Lê Đức Hùng.

[3] ĐGH Phaolô VI, Sứ điệp nhân ngày Thế giới truyền giáo, 1972.

[4] Cf. Viện Ngôn Ngữ Học, (Hoàng Phê chủ biên), “truyền giáo”, trong Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Tp. HCM, 2018, 1335.

[5] Cf. Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP, “Thần học về truyền giáo”, http://simonhoadalat.com, truy cập ngày 27/4/2019.

[6] Cf. Công Đồng Vaticanô II, (Phân khoa Thần học – Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X – Đà Lạt dịch), Sắc lệnh về Truyền Giáo (Ad Gentes), số 6.

[7] cf. Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp “Redemptoris Missio” - Sứ mạng của Đấng Cứu thế, 7/12/1990, số 33.

[8] Cf. ĐGH Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm vui của Tin Mừng), số 24.

[9] Công Đồng Vaticanô II, (Phân khoa Thần học – Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X – Đà Lạt dịch), Sắc lệnh về Truyền Giáo (Ad Gentes), số 1.

[10] Ibidem., số 9.

[11] Cf. Lm. August Nguyễn Văn Dụ, Hội Nhập Văn Hóa Trong Hôn Nhân Và Gia Đình Việt Nam, Tủ sách nghiên huấn về hôn nhân & Gia đình, 2018, p.161.

[12] Cf. Viện Ngôn ngữ Việt Nam, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2014, p.14.

[13] Cf. Peter Phan Đình Cho, “Đức Giêsu như là người anh cả và là ông tổ”, (Thế Hanh, OP., chuyển ngữ), 2010, http://daminhvn.net,  truy cập ngày 20/4/2019.

[14] Cf. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2013, p. 12-13.

[15] Cf. Felipe Gomez, SJ., Giáo Hội học 1, Antôn & Đuốc Sáng, p. 54.

[16] Cf. Matthêu Kelley, (ĐCV Bùi Chu dịch), Tái khám phá Đạo Công Giáo, Nxb. Tôn Giáo, Tp. HCM, 2015, p. 75.

[17] Cf. Nguyễn Văn Viên, Một số Mô hình Giáo Hội, ĐCV. Thánh Phanxicô Xaviê, 2017, p. 100.

[18] Cf. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Dives in Misericordia, 1980, số 4.

[19] Cf. Bộ Giáo lý Đức Tin, (HĐGMVN dịch), Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2011, số 2245.

[20] Cf. W. Kasper, (Nguyễn Khương Duy et alii dịch), Lòng Thương Xót, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2016, p. 180.

[21] Cf. Bộ Giáo lý và Đức Tin, Tuyên ngôn Dominus Jesus, (2000), số 16.

[22] Cf. Lm. Phaolô Bùi Đình Cao, Giáo trình Thần học Luân lý chuyên biệt, ĐCV. Thánh Phanxicô Xaviê, 2014, p. 7.

[23] Cf. Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 11.

[24] Id., Hiến chế Gaudium et Spes, số 1.

[25] Cf. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Ecclecsia in Asia, số 10.

Nguồn tin:
Tags :